Nhưng một nữ nhân xuất thân thương hộ, đi đối phó với đàn hặc của Ngự sử đài, con đường này không thể đi đường chính.
Ta phải tìm một người trợ giúp.
Nghĩ tới nghĩ lui, ta nghĩ đến Dung Chiêu.
Tìm một người mà ta luôn đề phòng để nhờ giúp — ý nghĩ này vừa xuất hiện, chính ta cũng thấy hoang đường.
Nhưng Dung Chiêu trong tay có thứ ta không có — mạng lưới quan hệ và tình báo của Quốc công gia ở kinh thành.
Nếu phía sau vị Ngự sử đàn hặc phủ Quốc công có người sai khiến, Dung Chiêu dễ tra ra hơn ta.
Chuyện này liên quan đến sự tồn vong của phủ Quốc công, nàng không có lý do từ chối.
Tối hôm đó, ta đến tiểu viện.
Dung Chiêu đang dưới đèn mài dao — một con dao ngắn, thân hẹp dài, lưỡi sắc bén, ánh lên lớp sáng lạnh dưới ánh nến.
Thấy ta đến, nàng vội cất dao, có chút lúng túng.
“Phu nhân, người sao lại đến?”
Ta không vòng vo.
“Có người đàn hặc phủ Quốc công, ta cần muội giúp.”
Sắc mặt nàng thay đổi.
Ta kể lại nội dung tấu chương cho nàng.
Nàng nghe xong trầm mặc rất lâu, rồi hỏi một câu:
“Phu nhân, vì sao người tìm ta?”
“Vì muội có thể tra ra người đứng sau đàn hặc, ta không làm được.”
Nàng nhìn ta, trong ánh mắt có thứ ta chưa từng thấy — như bất ngờ, lại như một loại cảm kích khi được công nhận.
“Được.” Nàng nói dứt khoát, “Ba ngày sẽ cho người câu trả lời.”
Dung Chiêu nói ba ngày, nhưng thực tế chỉ mất hai ngày.
Chiều tối ngày thứ hai, nàng đến viện ta, trên người còn mang hơi lạnh bên ngoài, như vừa vội vã trở về.
“Tra được rồi. Tấu chương là do Hàn lâm viện biên tu Lục Hoài Cẩn viết, nhưng hắn chỉ là cây bút, người đứng sau sai khiến là Thừa Ân hầu.”
Thừa Ân hầu, huynh trưởng của hoàng hậu, một lão huân quý lâu năm ở kinh thành — hắn có thù cũ với Quốc công gia, năm đó tranh quyền binh ở biên tây không được, vẫn ôm hận trong lòng.
“Thừa Ân hầu muốn mượn tay Ngự sử đài điều tra gia sản của Quốc công gia. Nếu tra ra vấn đề, sẽ lấy đó làm cớ đàn hặc tham ô quân lương, đoạt lại binh quyền biên tây.”
“Những chuyện này muội tra ra bằng cách nào?”
Khóe miệng Dung Chiêu khẽ cong lên, coi như cười:
“Lục Hoài Cẩn năm ngoái nạp một tiểu thiếp, mà tỷ tỷ của tiểu thiếp đó làm việc trong phủ Thừa Ân hầu.”
Ta nhìn nàng, trong lòng thầm cảm thán — người làm mật thám, tra chuyện quả thật nhanh hơn kẻ quản sổ như ta nhiều.
“Ngoài ra còn một chuyện.” Nàng hạ thấp giọng, “Gần đây Thừa Ân hầu đang tiếp xúc với người của Bộ Binh, muốn tra hướng đi quân lương hai năm nay của Quốc công gia. Nếu hắn tra ra của hồi môn và thương hiệu của phu nhân có liên quan…”
“Không tra ra được.” Ta cắt lời nàng, “Sổ sách của ta sạch sẽ, mỗi một lượng bạc đều có nguồn gốc.”
Dung Chiêu nhìn ta, trong đôi mắt to ấy bỗng thêm một thứ — là sự tin tưởng.
“Phu nhân, nếu sổ sách của người không có vấn đề, thì chuyện này dễ xử lý rồi. Cứ để hắn tra. Không chỉ để hắn tra, mà còn phải để tất cả mọi người đều biết hắn đang tra — tra xong mà không ra được gì, mất mặt là hắn.”
Ta nhìn nàng, bỗng bật cười:
“Cách của muội, giống hệt lời cha ta nói.”
Dung Chiêu sững lại một chút, rồi cũng cười — như ánh nắng xuyên qua lớp băng, rất nhạt, nhưng ấm.
Những việc tiếp theo, là ta và Dung Chiêu cùng nhau làm.
Ta phụ trách bên ngoài — chỉnh lý sổ sách ba năm thành册, kèm theo xấp văn thư cha ta chuẩn bị, thông qua Trang thúc chuyển giao cho Bộ Binh lưu trữ. Đồng thời, với thân phận “Quốc công phu nhân”, ta viết một phong thư lời lẽ khiêm nhường gửi Ngự sử đài, bày tỏ phủ Quốc công sẵn sàng phối hợp mọi điều tra, tuyệt không che giấu.
Dung Chiêu phụ trách bên trong — nàng dùng con đường của mình, tiết lộ chuyện Thừa Ân hầu sai khiến Lục Hoài Cẩn viết tấu đàn hặc cho vài người trong Hàn Lâm viện. Hàn Lâm viện toàn văn nhân, mà văn nhân thì coi trọng thể diện