Có lần, một vị kiến trúc sư là đối tác mời tôi đi ăn, anh ta đã ly hôn, có một cô con gái vừa lên tiểu học.
Đang ăn dở bữa, anh ta bất chợt nghiêm túc hỏi tôi: “Em còn kỳ vọng gì vào hôn nhân không?”
Tôi buông đũa, ngẫm nghĩ vài giây.
“Có chứ.” Tôi nói, “Nhưng em sẽ không bước vào một mối quan hệ chỉ vì hai chữ ‘kết hôn’ nữa.”
“Thế mục đích của em là gì?” Anh ta hỏi.
“Lấy ‘cùng nhau chung sống’ làm mục tiêu.” Tôi đáp, “Em mong người đó sẽ cùng em làm vô số những điều vụn vặt. Cùng ăn những bữa cơm, cùng ngắm biển, cùng cãi vã, cùng vun trồng một chậu cây nhặt nhạnh từ chợ hoa về sống dở chết dở.”
“Nghe chẳng lãng mạn chút nào.” Anh ta bật cười.
“Nhưng rất chân thực.” Tôi cũng cười, “Lãng mạn thì phải có, nhưng không thể chỉ có mỗi lãng mạn.”
Sau đó, chúng tôi không tiến tới với nhau.
Chẳng phải anh ta không tốt, mà vì trong một số vấn đề, cả hai không tìm được tiếng nói chung.
Chẳng hạn như, có dọn về sống chung khu đô thị với bố mẹ anh ta không, hay nếu con gái anh ta sang ở, phòng ốc sẽ thu xếp ra sao.
Lần đầu tiên tôi nhận ra, rất nhiều lựa chọn vốn dĩ không có “đúng” hay “sai”, chỉ có hợp hay không hợp.
Tôi cũng dần học được cách, không lấy “có phải người tốt hay không” để đánh giá đối tượng tiềm năng, mà tự hỏi mình một câu đơn giản hơn.
“Ở bên cạnh người đó, mình có thể thản nhiên làm chính mình hay không.”
Nếu câu trả lời là không, thì bỏ đi.
Cho đến một ngày, tôi nhận được một lời mời.
Đó là một triển lãm thiết kế kiến trúc tầm cỡ quốc tế, ban tổ chức mong tôi có thể mang vài dự án tới tham gia, còn ưu ái dành tặng tôi suất khách mời đặc biệt.
Triển lãm tổ chức ở Hạ Môn.
Khoảnh khắc nhận được email, tôi thoáng chốc do dự.
Thành phố này, với tôi mà nói, giống hệt vết sẹo đã kéo da non nhưng thi thoảng vẫn nhói ngứa.
Tôi từng vẽ nên vô vàn viễn cảnh tương lai ở đây, và cũng chính tay chôn vùi nó.
Thế nhưng giờ đây, tên tôi lại được xướng lên bằng một thân phận khác, được chính nơi này ngỏ lời mời gọi.
Nghĩ ngợi hồi lâu, tôi hồi đáp email: “Tôi sẽ tham dự.”
Lễ khai mạc triển lãm được tổ chức trong một khu xưởng cũ đã qua cải tạo, dưới mái vòm khung thép cao vút treo dãy đèn sáng choang, trên tường điểm xuyết những bức vẽ dự án.
Vài tác phẩm của tôi được bố trí ở một góc khiêm tốn nhưng chẳng hề khuất lấp.
Có dự án cải tạo đô thị, có homestay ven biển, và cả một dự án mà tôi cực kỳ tâm đắc – thư viện tiểu học.
Tòa thư viện ấy, chính là một trong những dự án do tôi quyên tiền xây cho các bé gái vùng cao năm nào.
Kiến trúc sư phụ trách thiết kế là một người kém tôi vài tuổi, cậu ta đã đặt trọn tâm huyết vào việc tạo ra một không gian đọc sách rộng lớn, nơi bọn trẻ có thể thoải mái lăn lộn, đọc sách và ngủ trưa.
Nhìn bức ảnh chụp thực tế, tôi không nén nổi nụ cười.
Tôi dạo quanh phòng triển lãm một vòng, hàn huyên với vài đồng nghiệp, rồi khựng lại trước gian trưng bày của chính mình, lắng nghe hai bạn trẻ đang xôn xao bàn tán.
“Cậu xem cầu thang này, thiết kế đỉnh thật.” Một cô bé đội mũ lưỡi trai trầm trồ, “Vừa làm lối đi, vừa là không gian đọc sách.”
“Tớ biết nhà thiết kế này đấy.” Cậu bạn bên cạnh tiếp lời, “Trong các dự án của cô ấy, kiểu gì cũng ưu ái dành hẳn một hai không gian cho trẻ em hoặc phụ nữ.”
Tôi bỗng thấy buồn cười.
Hóa ra trong mắt người khác, tôi đã dần định hình thành một người “có phong cách riêng”.
Giai điệu êm ái trôi nhẹ trong phòng triển lãm thênh thang, tiếng người trò chuyện râm ran nhưng không ồn ã.
Tôi lấy một ly nước, tựa vào cây cột nhấm nháp.
Lát sau, nhân viên lễ tân bước tới, nói với tôi: “Chị Lâm, có một anh tự xưng là bạn chị ở ngoài, hỏi xem chị có tiện ra gặp một lát không?”
“Anh nào?” Tôi ngẩn người, “Anh ta tên gì?”