xác định.
Tôi bước từng bước về phía con sông ở rìa làng. Con sông đó tên là Thanh Khê, cũng là lý do ngôi làng có tên như vậy. Nó chảy chậm rãi quanh làng, là nguồn nước duy nhất. Bình thường nước trong vắt, nhưng hôm nay tôi cảm thấy dưới làn nước xanh u uất kia ẩn chứa một nỗi kinh hoàng khổng lồ.
Chúng tôi đi đến bờ sông. Trên bãi bùn đầy những dấu chân hỗn loạn của dân làng, không có gì đặc biệt. Ngay lúc tôi định bỏ cuộc, chú câm trong làng bất ngờ chạy ra từ sau một cây liễu. Chú vừa chạy vừa chỉ về phía thượng nguồn, miệng phát ra những tiếng “a a” dồn dập, vẻ mặt vừa kích động vừa sợ hãi. Chú câm là người già trong làng, không con không cái, sống một mình trong căn nhà mái tranh cuối làng, ít giao tiếp với mọi người nhưng ai cũng biết chú sống ở đây cả đời, hiểu rõ núi sông nơi này hơn bất kỳ ai.
Chúng tôi nhìn theo hướng chú chỉ. Đó là một khúc cua của dòng sông, nơi có một dải lau sậy mọc rậm rạp.
“Chú Câm nói ở đó có thứ gì đó?” trưởng thôn hỏi. Chú Câm gật đầu lia lịa, rồi chạy đến một bãi cát phẳng, dùng ngón tay vẽ nhanh. Nét vẽ nguệch ngoạc và trừu tượng, nhưng tất cả chúng tôi đều hiểu. Chú vẽ một người bị thứ gì đó kéo vào dải lau sậy, và bên cạnh người đó là một hình khối dài khổng lồ, không tay không chân. Chính là hình dạng của thứ đã tấn công tôi đêm qua.
Tim tôi thắt lại. Bác Vương rất có thể đang ở trong dải lau sậy đó, hoặc đúng hơn là thi thể của bác. Chú Câm vẽ xong rồi chỉ vào tôi, sau đó chỉ vào sợi dây đỏ trên cổ tôi. Chú nhớ tôi đeo đồng tiền cổ. Chú chắp tay, không ngừng vái lạy tôi, ánh mắt tràn đầy khẩn cầu. Tôi hiểu ý chú: chú hy vọng tôi có thể dùng đồng tiền của đạo sĩ để làm điều gì đó. Trong mắt chú, đồng tiền đó là thứ duy nhất có thể đối kháng với tà thần.
**12**
Phát hiện của chú Câm khiến mọi người im lặng. Dải lau sậy lay động trong gió giờ đây như lối vào địa ngục. Không ai dám tiến lại gần. Bên trong có thể là thi thể bác Vương, hoặc cũng có thể là con quái vật giết người.
“Giờ phải làm sao?” một thanh niên phá vỡ sự im lặng, “chúng ta có nên… vào xem không?” Giọng anh ta không chắc chắn. Trưởng thôn nhíu mày, rít thuốc lào, im lặng. Đây là một quyết định khó khăn. Đi thì nguy hiểm tính mạng, không đi thì bác Vương mãi mãi không thấy xác. Tình nghĩa xóm giềng thuần phác không cho phép họ làm ngơ.
“Chúng ta phải tìm cách,” tôi nói, “không thể cứ thế xông vào.” Lời tôi nhắc nhở mọi người rằng nỗi sợ không giải quyết được vấn đề, chúng ta cần một kế hoạch.
Chúng tôi quay về làng. Trưởng thôn triệu tập tất cả đàn ông còn lại trong làng đến từ đường. Đây có lẽ là cuộc họp trầm mặc nhất trong lịch sử làng Thanh Khê. Trong từ đường chật kín khoảng hai ba chục người, già trẻ đủ cả, khuôn mặt ai nấy đều hiện rõ sự sợ hãi và mờ mịt. Trưởng thôn kể lại tình hình, cả từ đường lập tức náo loạn.
“Hà Thần… Hà Thần thực sự nổi giận rồi!”
“Tất cả là vì chúng ta quên tế lễ!”
“Giờ phải làm sao đây!”
“Hay là… chúng ta chạy đi! Rời khỏi cái nơi quỷ quái này!”
“Chạy? Chạy đi đâu? Đây là gốc rễ của chúng ta!”
“Không chạy chẳng lẽ ở đây chờ chết sao?”
Nỗi hoảng loạn lan rộng như dịch bệnh. Người đòi chạy, người đòi ở lại, tranh luận không ngớt, khung cảnh trở nên hỗn loạn.
“Tất cả im lặng cho tôi!” Trưởng thôn đập mạnh xuống bàn, hét lớn. Uy tín của ông tích lũy hàng chục năm phát huy tác dụng, sự tranh cãi dần lắng xuống. Mọi ánh mắt lại đổ dồn về phía ông.
“Chạy không phải là cách,” trưởng thôn trầm giọng nói, “thứ đó là tà thần. Chú có chạy đến chân trời góc bể, nó muốn lấy mạng chú thì chú cũng không thoát được. Con đường sống duy nhất là cầu xin sự tha thứ của nó. Bắt đầu tế lễ trở lại.”
Lời trưởng thôn khiến mọi người sững sờ. Tế lễ trở lại? Tế thế nào?