“Trong nhà… sao lại có thứ này…”

Triệu Đình nói:

“Hai người ở ngoài đợi, ta vào xem thử.”

Hắn nhanh nhẹn chui vào trong. Bên trong lập tức vang lên tiếng sột soạt khe khẽ.

Chốc lát sau, Triệu Đình bước ra.

Trên đầu và người hắn dính không ít bụi bặm và mạng nhện, trong tay còn ôm một chiếc hộp gỗ cũ kỹ.

Hắn đưa hộp cho ta, giải thích:

“Bên trong đều là quần áo và lương khô dự trữ, để quá lâu nên đã mục nát cả rồi. Chiếc hộp này hẳn là đồ của ngoại tổ mẫu nàng, nên để chính tay nàng mở.”

Thu Đường lấy giẻ lau, cẩn thận lau sạch chiếc hộp.

Chiếc hộp có khóa, ta không có chìa, đành nhờ Triệu Đình giúp.

Triệu Đình lấy dao găm ra, khẽ nạy một cái, khóa liền bật mở.

Ta thấp thỏm mở nắp hộp, thấy bên trong là một xấp giấy dày, phía dưới đè một miếng ngọc long phượng tinh xảo.

Hoa văn long phượng chỉ hoàng gia mới được dùng — ngoại tổ mẫu sao lại có vật như vậy? Lại còn tốn công giấu trong mật thất.

Trong lòng ta đầy nghi vấn, hai tay run rẩy vì căng thẳng.

Triệu Đình giục:

“Xem trên mấy tờ giấy kia viết gì.”

Những tờ giấy vì đã quá lâu năm nên vừa mỏng vừa giòn, ta phải cực kỳ cẩn thận mới tách ra được.

Trên đó là các bản thảo viết tay. Ta và Triệu Đình kề đầu cùng xem.

Lúc này ta đã chẳng còn tâm trí để ý tránh hiềm nghi nữa. Những chuyện ghi trên giấy, đối với ta chẳng khác nào sét đánh giữa trời quang.

Ba mươi hai năm trước, hoàng đế đương triều vẫn còn là Tứ hoàng tử, thái hậu khi ấy vẫn là Đức phi.

Thời điểm đó trong cung xảy ra biến loạn, Tam hoàng tử và Thái tử vì tranh đoạt ngôi vị mà huynh đệ trở mặt.

Đức phi mang theo một trai một gái, dưới sự hộ vệ của nội quan, trốn khỏi kinh thành, giữa đường lại gặp loạn đảng.

Đức phi chỉ kịp đưa Tứ hoàng tử thoát thân, còn đứa con gái sáu tuổi là Nhu Gia công chúa thì bị thất lạc.

Cuộc biến loạn ấy kéo dài hơn ba năm.

Loạn đảng vì muốn đuổi cùng giết tận, đã khắp nơi truy tìm con cháu hoàng thất trốn chạy.

Nhu Gia công chúa được một lão thái giám dẫn theo, trốn tới Hạc Thành.

Lão thái giám hơi thông hiểu thuật kỳ môn độn giáp, để bảo toàn cho công chúa, ông lén xây một mật thất trong nhà.

Hễ gặp truy binh, liền dẫn công chúa trốn vào mật thất.

Để phòng công chúa còn nhỏ dại lỡ miệng, thái giám luôn lừa gạt nàng, khiến nàng quên mất thân phận công chúa của mình.

Lâu dần, Nhu Gia công chúa thật sự quên mất xuất thân của bản thân.

Đáng tiếc, hai năm sau, thái giám mắc trọng bệnh.

Trước lúc lâm chung, ông đem công chúa gửi gắm cho một phụ nhân không con không cái.

Người phụ nữ ấy không hề biết lai lịch của Nhu Gia công chúa, chỉ tận tâm chăm sóc.

Thái giám từng dặn dò bà ta, đợi khi biến loạn lắng xuống, hãy mở cửa mật thất, giao chiếc hộp trong đó cho Nhu Gia công chúa, để nàng tìm cơ hội đoàn tụ với Đức phi.

Ta đọc xong bản thảo, trợn mắt há mồm, hồi lâu không sao bình tĩnh lại được.

“Vân Tịch, mẫu thân của nàng, chính là Nhu Gia công chúa năm xưa.”

Giọng Triệu Đình vang lên, kéo ta sực tỉnh.

12

Mẫu thân vốn chỉ là dân thường áo vải, bỗng chốc lại trở thành kim chi ngọc diệp.

Chuyện ly kỳ như vậy, e rằng bất kỳ ai nghe cũng khó mà tin nổi.

Một lúc lâu sau, ta mới nén ra được một câu:

“Nếu mẫu thân quả thực là công chúa, vậy vì sao ngoại tổ mẫu không nói cho bà ấy biết chuyện mật thất?”

Triệu Đình lộ vẻ tức giận:

“Ta đã tra qua. Ngoại tổ mẫu nàng tuy tâm địa hiền lành, nhưng trí nhớ lại kém. Có lẽ thái giám căn dặn quá nhiều chuyện, bà ấy lại quên mất việc quan trọng nhất này.”

Ta nhất thời cứng họng.

Ngoại tổ mẫu quả thực rất hay quên. Khi tuổi cao, trí nhớ bà càng ngày càng sa sút.

Lúc mẫu thân còn sống, bà thường lẫn lộn tên ta với tên mẫu thân; có khi ra ngoài, đến đường về nhà cũng không nhớ nổi.

Ta trầm giọng hỏi:

“Vậy nói như thế, việc ngài vừa nói phụng mệnh hoàng thượng và thái hậu mà đến… không phải là lời đùa?”

Triệu Đình giải thích:
“Khi điều tra chuyện của nàng, ta phát hiện lệnh đường không phải người bản xứ Hạc Thành, mà là theo một vị lão giả đến đây ẩn cư. Nghe nói lệnh đường họa kỹ xuất chúng, ta liền tìm tranh của bà để xem kỹ, phát hiện phong cách lại mang bóng dáng của họa sư cung đình Hoàng Trung.”

Ta nghe mà sững sờ, hắn tiếp tục lần theo manh mối:
“Thuở nhỏ, Nhu Gia công chúa từng bái Hoàng Trung làm thầy. Nghe đồn nàng thiên phú dị bẩm, chỉ cần chỉ điểm một chút là hiểu ngay. Thời điểm lệnh đường đến Hạc Thành trùng khớp hoàn toàn với lúc Nhu Gia công chúa mất tích, ta liền sinh nghi. Sau đó biết nàng định hồi hương, ta thuận nước đẩy thuyền, bẩm việc này lên hoàng thượng và thái hậu. Sau khi đăng cơ, hoàng thượng từng phái người khắp nơi tìm kiếm Nhu Gia công chúa, nhưng mãi bặt vô âm tín, thái hậu và hoàng thượng đều cho rằng công chúa đã sớm qua đời. Nay có được manh mối, hoàng thượng lập tức hạ chỉ, lệnh ta tra xét triệt để.”

Cuối cùng ta mới khép được cái miệng đang hé vì kinh ngạc, cơn tức bỗng bốc lên:
“Hóa ra ngươi đã sớm có dự mưu! Vì sao nhất định phải tra chuyện của ta?”

Triệu Đình đáp đầy chính khí:
“Vì ta vừa gặp đã yêu nàng. Đương nhiên phải tìm hiểu nhiều hơn.”

Hắn thẳng thắn như vậy, trái lại khiến ta không biết đối phó thế nào.

Thu Đường thấy tình hình, vội hiểu ý mà lui ra ngoài.