“Đương kim bệ hạ dưới gối có ba hoàng tử. Nhị hoàng tử văn võ song toàn nhưng tính tình lại ngoan cố tự phụ. Tam hoàng tử thì đúng chuẩn thùng rỗng kêu to lại còn ngông cuồng hống hách. Ta nghe nói Tứ hoàng tử tuy xuất thân không hiển hách, mẫu phi mất sớm, thế nhưng ngài lại thông minh hiểu chuyện, tấm lòng khoan dung trượng nghĩa. Nếu có thể phò tá ngài bước lên ngôi vị cửu ngũ chí tôn, bên ngoài không lo nạn ngoại thích can chính, bên trong lại có bề tôi hiền lương phò trợ. Triều đình trên dưới nhất định có thể đổi lấy một thời thái bình thịnh thế.”

Thiên hạ không chỉ cần một vị minh quân, mà còn cần một vị nhân quân.

“Thôi Hành Chu, chàng cũng mong muốn con gái chúng ta mai sau được lớn lên trong khung cảnh thái bình thịnh trị, đúng không? Đi làm việc mà chàng đã chọn đi, đợi ta trở về.”

11

Ngày thứ ba sau khi Thẩm Hành rời đi, Thôi Hành Chu đứng trên tháp canh cổng thành, dõi mắt nhìn theo hướng nàng đã đi khuất, mãi cho đến khi ánh tà dương kéo bóng hắn dài lê thê.

Đêm hôm ấy, phá lệ lần đầu tiên hắn tự rót cho mình nửa bầu rượu nóng. Trong men say chếnh choáng mờ ảo, hắn nhìn thấy ngọn đèn chập chờn trên bàn, đốm lửa nhảy nhót hệt như ánh nến in hằn lên xương quai xanh của nàng đêm đó khi nàng cởi y phục.

Hắn dằn mạnh chén rượu xuống bàn, đứng bật dậy đi thẳng vào thư phòng. Lục tìm lại một cuộn bản đồ (dư đồ) đã phủ lớp bụi mờ, hắn trải rộng ra. Trên đó đánh dấu chi chít sự phân bổ binh lực của các châu phủ và mạng lưới vận chuyển lương thảo.

Hắn thức trắng đêm xem bản đồ.

Sáng sớm tinh mơ hôm sau, Thôi Hành Chu đến gõ cửa Thôi phủ.

Gã gác cổng báo lão gia vẫn chưa thức giấc. Hắn đi thẳng qua bức tường cản phong thủy (ảnh bích), xuyên qua hai dãy hành lang, ngồi đợi chừng một nén nhang trong sảnh chính. Cuối cùng Thôi đại nhân cũng vịn tay lão nô bộc chậm rãi bước ra. Thấy hắn ngồi trên chiếc ghế thái sư với đôi mắt quầng thâm đỏ hoe, ông thoáng sững sờ.

“Hành Chu? Sao lại sớm thế này…”

Thôi Hành Chu đứng bật dậy, chắp tay cúi gập người thi lễ thật sâu.

“Phụ thân, nhi tử đã suy nghĩ thấu đáo rồi.”

Động tác vuốt râu của Thôi đại nhân chợt khựng lại.

“Đạo thuần thần là lý lẽ của thời thái bình thịnh trị.” Thôi Hành Chu thẳng lưng lên, ánh mắt sắc lạnh như sương, “Thế nhưng hiện giờ giặc Oa năm nào cũng xua quân xâm phạm bờ cõi, trong triều thì bè phái tranh đấu cấu xé lẫn nhau, thuế má Giang Nam thu mười phần thì mất bảy phần để nuôi binh lính, bách tính lầm than khổ ải. Long thể Bệ hạ bất an, ngôi vị Thái tử vẫn còn bỏ ngỏ, các hoàng tử thì ai nấy đều ấp ủ mưu đồ riêng—— đây mà gọi là thái bình thịnh trị sao?”

Hắn ngập ngừng một lát, giọng trầm xuống: “Nếu vẫn cứ khư khư ôm lấy cái khuôn phép quân tử bất đảng ấy, đợi đến lúc thiên hạ thực sự đại loạn, Thôi gia chúng ta liệu có thể lo thân mình được nữa chăng?”

Thôi đại nhân chìm vào im lặng rất lâu, lâu đến mức lũ chim sẻ dưới hiên đã hót ríu rít được hai bận.

Cuối cùng vị lão thần lăn lộn qua hai triều đại buông một tiếng thở dài thườn thượt, giọng điệu mang theo sự nhẹ nhõm buông bỏ: “Cuối cùng con cũng thông suốt rồi.”

Thôi Hành Chu sững sờ.

“Con tưởng ta nhìn không thấu thế cục sao?” Thôi đại nhân chậm rãi bước tới trước mặt hắn, vỗ nhẹ lên vai hắn, “Ta già rồi, cả đời ôm khư khư cái danh thanh liêm đi hết một kiếp người. Không phải vì ta không biết tùy cơ ứng biến, mà là ta sợ chỉ sai một ly sẽ liên lụy đến cả gia tộc. Nhưng con thì khác, Hành Chu à, con có bản lĩnh, lại có tầm nhìn xa trông rộng hơn ta.”

Bàn tay khô ráp nhưng ấm áp của ông, giống hệt như hơi ấm lúc nhỏ mỗi khi Thôi Hành Chu gây họa được ông che chở phía sau.

“Đi đi, đi làm chuyện mà con nên làm.”