“Gia sản Bùi gia, một đồng xu cắc bạc cũng không nằm ở Hầu phủ, trên tộc phả không hề có tên các ngươi. Chiêu Ninh đã gả ra ngoài rồi, ngươi không ban hôn được nữa.”
Môi nàng ta mím chặt.
“Còn những việc đệ đệ ngươi làm… Người của Binh bộ, Hình bộ, Đại lý tự, những động tác lật lại hồ sơ cũ… ta đều biết.”
Đồng tử nàng ta co rút lại.
“Bùi Cảnh Sâm cũng biết!”
Mặt nàng ta trắng bệch đi một lớp.
Ta xoay người hướng ra phía cửa điện.
Lúc đến cửa, ta dừng lại.
“Khương Vân Yểu, đường của ngươi tự ngươi đi, nhưng người của Bùi gia và đồ của Bùi gia, ngươi đừng hòng động tới một món nào.”
Ta đẩy tung cửa điện.
Trên đường về Hầu phủ, xe ngựa đi qua phố Trường An, ta vén rèm nhìn dòng người tấp nập trên phố một cái.
Ánh nắng hắt xuống con đường lát gạch xanh, người qua kẻ lại ngược xuôi.
Mười tám năm rồi.
Từ lúc ta đưa hai đứa trẻ đó về đến nay, đã mười tám năm.
Kiếp trước ta dùng mười tám năm này để nuôi chúng khôn lớn, rồi lại bị chúng tàn phá.
Kiếp này ta dùng sự bình tĩnh và tỉnh táo suốt mười tám năm qua, đi trước chúng từng bước cờ.
Chiêu Ninh đã gả vào gia đình tốt, bình an hạnh phúc.
Cơ nghiệp Bùi gia còn nguyên vẹn không sứt mẻ.
Kết cục của Khương Vân Yểu và Khương Vân Sách, là do chính bọn chúng chọn.
Lúc ta bước ra khỏi cổng hoàng cung, ánh nắng vừa vặn chiếu tới.
Rất ấm áp.
Xe ngựa Hầu phủ đỗ bên ngoài cổng cung, Bùi Trung đứng cạnh xe, thấy ta bước ra, hốc mắt ông đỏ hoe.
“Phu nhân, kết thúc cả rồi.”
Ta lên xe ngựa, buông rèm xuống.
Xe ngựa chầm chậm chuyển bánh.
Khi qua phố Trường An, qua khe rèm ta thấy một cửa hiệu ven đường vừa mở cửa, lồng hấp bốc lên những làn hơi trắng muốt.
Trước cửa tiệm là hai mẹ con, bé gái cưỡi trên cổ mẹ, cười khanh khách.
Ta nhìn rất lâu.
Rồi từ từ buông rèm xuống.
Về đến Hầu phủ, ta bước vào chính đường.
Những bức chân dung trên tường vẫn treo ở vị trí cũ, không thiếu một bức nào.
Ta đứng trước những bức chân dung, rút lá thư trong áo ra, mở ra đọc lại lần cuối cùng.
Là chữ của Bùi Cảnh Sâm.
Chữ viết nguệch ngoạc, run rẩy, nhưng mỗi nét đều dùng sức.
Ta gập lá thư lại, cất vào hộp sắt trên hương án.
Sau đó ta đi ra sân viện.
Cây lựu mà Chiêu Ninh tự tay trồng nay đã lớn, cành lá sum suê, quả xanh trĩu trịt.
Ta đứng dưới gốc cây một lát.
Gió thổi qua, lá cây xào xạc.
Nắng ấm mơn man trên người ta.
Ta quay trở lại phòng, trải giấy ra, viết cho Chiêu Ninh một bức thư.
Trong thư chỉ có bốn chữ…
“Mọi sự bình an.”
*
Thực ra ngay từ ngày đầu tiên bước chân vào Hầu phủ, ta đã cảm thấy ánh mắt Bùi phu nhân nhìn ta không bình thường.
Ánh mắt ấy không phải ghét bỏ, cũng chẳng phải xa lánh, mà là một loại… thấu triệt.
Cứ như thể bà ấy đã sớm nhìn thấu trọn một đời ta, biết ta sẽ mỉm cười vào khoảnh khắc nào, nói dối vào khoảnh khắc nào, và lại vì trèo cao mà không từ thủ đoạn vào khoảnh khắc nào.
Ta từng đinh ninh đó là ảo giác của mình.
Để xua tan đi nỗi bất an ấy, ta liều mạng thể hiện. Ta đọc sách, ta luyện chữ, ta ngoan ngoãn như một cái bóng.
Nhưng dẫu ta có làm tốt đến đâu, thứ bà ấy dành cho ta vĩnh viễn là một sự thể diện vừa vặn, và một sự đề phòng sâu không thấy đáy.
Bà ấy không cho ta nhập tộc phả, không cho phép ta gọi bà ấy là mẫu thân.
Bà ấy tách biệt ta và Vân Sách khỏi trung tâm của Bùi gia, giống như nuôi hai con chó mèo danh giá, cho ăn cho ở, nhưng tuyệt nhiên không trao danh phận.
Khi đó ta không hiểu, ta cứ ngỡ đó là sự thiên vị của bà ấy, là sự ngạo mạn của vị đương gia chủ mẫu danh gia vọng tộc.
Thế nên ta tự nhủ với bản thân mình, ta nhất định phải trèo lên cao.