Thấy hành động của tôi, đồng tử của người đàn bà co rút lại. Chị ta bất thình lình ném phịch đứa trẻ vào lòng tôi, quay đầu vắt chân lên cổ mà chạy.
Tôi không đuổi theo. Tôi giang tay đỡ lấy đứa bé, ôm chặt nó vào lòng.
Thằng bé nhẹ bẫng, nhẹ hơn hẳn cân nặng của một đứa trẻ ba, bốn tháng tuổi bình thường, lớp chăn quấn quanh người lỏng lẻo, tay chân thằng bé lạnh ngắt.
Tôi áp mặt thằng bé vào ngực mình, cảm nhận nhịp thở của nó rất nông, vô cùng yếu ớt, dường như có thể ngừng tắt bất cứ lúc nào.
Tôi một tay ôm chặt đứa bé, một tay bấm số gọi điện báo cảnh sát.
Chưa đầy mười phút sau cảnh sát đã có mặt. Người đàn bà kia chạy chưa được bao xa, đã bị đội dân phòng đi tuần tóm gọn ngay tại cửa Bắc của công viên.
Lúc bị áp giải về, nụ cười thô kệch, xuề xòa trên mặt chị ta đã bay biến hoàn toàn, thay vào đó là một vẻ vô hồn lạnh lẽo, y hệt như biểu cảm của lũ buôn người mà tôi từng thấy trên các bản tin thời sự.
Đứa trẻ bắt đầu co giật ngay khi vừa lên xe cảnh sát.
Họ lập tức hú còi hụ, đưa thẳng đứa bé đến bệnh viện gần nhất. Bác sĩ khoa cấp cứu kiểm tra xong cho biết, đứa trẻ đã bị ép uống thuốc có chứa thành phần an thần với liều lượng không hề nhỏ, nếu đưa đến trễ nửa ngày nữa, e là khó lòng cứu vãn.
Tôi đứng ngoài hành lang khoa cấp cứu, nhìn đứa bé nằm trong lồng kính, thân hình nhỏ xíu cắm chằng chịt dây rợ, tay tôi không ngừng run rẩy.
Không phải vì hoảng sợ, mà là vì phẫn nộ. Một ngọn lửa phẫn nộ cháy rực từ tận xương tủy, suýt chút nữa đã thiêu rụi toàn bộ lý trí của tôi.
Đứa trẻ bị đem đi rửa dạ dày, truyền dịch, gắn máy theo dõi sinh tồn, quần quật suốt cả một đêm.
Tôi ngồi trên hàng ghế nhựa ngoài hành lang, túc trực bên ngoài suốt đêm. Y tá khuyên tôi về nghỉ ngơi, tôi bảo tôi là chuyên viên chăm sóc mẹ và bé, tôi biết cách chăm sóc trẻ sơ sinh trong tình trạng này. Cô y tá nhìn tôi một cái, không nói gì thêm, lẳng lặng rót cho tôi một cốc nước ấm.
Chiều hôm sau, tình hình của đứa bé dần ổn định. Cảnh sát cũng đến, mang theo một thông tin khiến toàn thân tôi ớn lạnh.
Chứng minh thư của người đàn bà họ Ngô đó là giả, nhưng người thì đúng là mụ ta. Trải qua một đêm thẩm vấn căng thẳng, mụ ta đã khai ra đường dây và đồng bọn của mình. Mụ ta nằm trong một đường dây buôn bán trẻ em xuyên ba tỉnh, chuyên nhắm vào các gia đình ở nông thôn và khu vực giáp ranh thành thị, giả danh làm người giúp việc hoặc bảo mẫu để xâm nhập, chiếm lấy lòng tin rồi bế đứa trẻ đi mất.
Đứa bé nhà thím họ không phải là nạn nhân đầu tiên, và cũng không phải nạn nhân cuối cùng. Trước khi sa lưới, đường dây này đã bắt cóc trót lọt mười một trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
Khi viên cảnh sát nói những lời này, giọng điệu của anh ta vẫn cố giữ vẻ kiềm chế, nhưng tôi thấy rõ các khớp ngón tay đang cầm cuốn sổ ghi chép của anh ta siết lại đến trắng bệch.
“Các anh đã tìm thấy những đứa trẻ khác chưa?” Tôi hỏi.
“Chúng tôi đang khẩn trương truy quét. Mụ ta đã khai ra một vài địa điểm cất giấu, lực lượng của chúng tôi đang tiến hành vây bắt.” Anh ta gập cuốn sổ lại, ngước lên nhìn tôi, “Cô làm nghề bảo mẫu ở cữ à?”
“Chuyên viên chăm sóc mẹ và bé.” Tôi đính chính.
Anh ta gật đầu, khóe miệng khẽ nhếch lên, như muốn nói “Thảo nào”. Anh ta đứng thẳng người, giơ tay chào tôi theo điều lệnh. Không phải là kiểu chào qua loa cho có lệ, mà là một động tác chào nghiêm trang, bàn tay giơ ngang vành mũ, giữ yên ba giây rồi mới hạ xuống.
“Cảm ơn cô. Nếu không nhờ cô tinh ý, đứa bé này có lẽ ngày hôm nay đã không còn trên cõi đời này nữa.”
Tôi cúi đầu, nhìn xuống đôi bàn tay mình. Đôi bàn tay này ở kiếp trước từng giặt không biết bao nhiêu tã lót ở nhà thím họ, làm không biết bao nhiêu việc nhà, cuối cùng lại phải ngâm mình trong dòng nước lạnh giá. Kiếp này, đôi