Cảnh sát trích xuất camera của tiệm tạp hóa đầu làng, phát hiện người đàn bà họ Ngô đó sau khi đẩy xe nôi ra khỏi làng, đã lên một chiếc xe bánh mì màu bạc không biển số đậu ở ven quốc lộ. Chiếc xe chạy về hướng Nam, vừa lên đường cao tốc thì mất dấu vết.

Căn cước công dân của người đàn bà đó là đồ giả, số điện thoại là sim rác mới mua, tất cả những thông tin có thể tra cứu được đều là giả mạo.

Cảnh sát nhận định đây là một vụ án bắt cóc trẻ em có tổ chức và đã thành lập tổ chuyên án.

Thím họ lúc đó thì ngã quỵ. Bà ta ngồi bệt xuống đất, vỗ đùi gào khóc thảm thiết.

Lưu Phương thì ngất lịm đi ngay tại chỗ, tỉnh lại liền hóa điên, túm lấy tóc thím họ đập đầu vào tường, vừa đập vừa gào thét khản cổ: “Bà trả con cho tôi! Bà trả con lại đây cho tôi!”

Trần Hạo – con trai thím họ – ngay trong đêm vội vã từ Quảng Đông chạy về. Vừa bước vào cửa, thấy nhà cửa loạn cào cào, mặt mẹ mình toàn những vết cào rướm máu, vợ mình thì ngồi thu lu ở góc tường ôm khư khư manh áo nhỏ của con không buông, thần trí đã không còn tỉnh táo.

Sau khi hỏi rõ ngọn ngành, anh ta vung tay đấm mạnh một cú vào khung cửa, da mu bàn tay rách tươm, bật máu.

Cảnh sát ròng rã tìm kiếm suốt bảy ngày trời, không thấy tăm hơi.

Ngày thứ mười bốn, vẫn bặt vô âm tín.

Đến ngày thứ hai mươi mốt, tổ chuyên án báo tin, nói manh mối đã bị đứt đoạn. Biển số của chiếc xe bánh mì đó là biển giả, sau khi lên cao tốc, chúng đã đổi sang một chiếc xe khác ở trạm dừng chân thuộc tỉnh lân cận, sau đó thì giống như một giọt nước hòa vào biển cả, bốc hơi hoàn toàn.

Một tháng trôi qua, đứa bé vẫn không được tìm thấy.

Và rồi thím họ đã làm một chuyện. Bà ta đẩy toàn bộ trách nhiệm lên đầu tôi.

Nguyên nhân bắt nguồn từ việc tình trạng tinh thần của Lưu Phương ngày càng tồi tệ.

Chị ta bắt đầu bỏ ăn bỏ uống, thức trắng đêm không ngủ, cứ ôm cái chăn nhỏ của con đi đi lại lại trong sân, miệng lẩm nhẩm hát một bài ru con không biết học được từ đâu.

Trần Hạo đưa vợ lên bệnh viện huyện khám, bác sĩ chẩn đoán chị ta bị rối loạn tâm thần do sang chấn, đề nghị nhập viện điều trị.

Thím họ xót tiền, bảo cứ để ở nhà tĩnh dưỡng rồi sẽ khỏi.

Nhưng bệnh của Lưu Phương không những không thuyên giảm, mà ngày càng nghiêm trọng. Có một đêm nọ, chị ta đột nhiên ngồi bật dậy trên giường, đôi mắt trừng trừng nhìn chằm chằm vào thím họ, nói một câu khiến thím họ sởn gai ốc.

“Đều tại bà. Nếu không phải tại bà tham rẻ rước bọn buôn người về nhà, thì con trai tôi đã không bị bắt cóc.”

Câu nói ấy như một nhát dao đâm trúng tim đen của thím họ, nhưng bà ta không đời nào chịu thừa nhận.

Bà ta sống trên đời chưa từng biết nhận lỗi, bất kỳ lỗi lầm nào cũng là do người khác. Trước đây là lỗi của mấy bà bảo mẫu, bây giờ không thể đổ lỗi cho bảo mẫu được nữa, vì chính bà ta là người rước mụ kia về.

Vậy thì chỉ có thể là lỗi của một người khác.

“Không phải tại tao!” Thím họ gào lên với Lưu Phương, “Tất cả là tại con Hiểu Duyệt! Là tại nó không chịu đến hầu hạ mày ở cữ, tao mới phải cực chẳng đã đi tìm người ngoài! Nếu không phải tại nó ích kỷ, thì làm sao cháu tao lại bị bắt cóc? Đều do nó hại cả!”

Lưu Phương nghe xong câu nói này, trong đôi mắt vẩn đục bỗng lóe lên một tia sáng quỷ dị. Chị ta từ từ quay đầu lại, dùng một giọng điệu rợn tóc gáy để lặp lại: “Đúng rồi, là Trần Hiểu Duyệt. Là nó hại.”

Kể từ đó, câu nói này đã trở thành một câu thần chú của hai người bọn họ.

Ngày nào cũng lẩm nhẩm đi lẩm nhẩm lại, nói cho nhau nghe, nói cho Trần Hạo nghe, nói cho tất cả những người họ hàng đến nhà thăm hỏi nghe. Nói đến cuối cùng, chính bản thân bọn họ cũng tin đó là sự thật.

Thím họ kéo theo Lưu Phương và Trần Hạo, cùng vài người họ hàng cùng chi bị xúi giục, hùng hổ kéo đến nhà bố mẹ tôi.