Vị lãnh đạo mà Lưu Đức Tài cúng nạp ba vạn tệ suốt ba năm trời.

Kiếp trước, Lưu Đức Tài ngồi trên chiếc ghế ở Cục Thương mại đến tận lúc nghỉ hưu, vị lãnh đạo kia sau này còn được thăng chức lên thành phố, quan lộ thênh thang.

Chẳng ai sờ gáy bọn chúng.

Kiếp này, Lưu Đức Tài đi tù rồi.

Nhưng vị lãnh đạo kia vẫn sờ sờ ra đấy.

Về đến cổng xưởng phúc lợi, tôi thấy có hai chiếc xe đạp đỗ bên ngoài.

Một chiếc là của chị Châu.

Chiếc còn lại lạ hoắc lạ huơ.

Đẩy cửa bước vào, trong văn phòng của chị Châu đang có một người phụ nữ trạc hơn bốn mươi tuổi ngồi đợi.

Mặc áo sơ mi vải Dacron thẳng thớm, tóc búi gọn gàng không một cọng rối, trên tay cầm một cuốn sổ ghi chép.

“Tiểu Hòa, lại đây lại đây.” Chị Châu vẫy gọi tôi, “Giới thiệu với em, đây là chị Trần, xưởng trưởng xưởng may mặc.”

Xưởng trưởng Trần đứng lên, đưa mắt đánh giá tôi từ đầu đến chân.

Ánh mắt dừng lại trên đôi chân tôi một giây, rồi lập tức rời đi.

“Kế toán Lâm, ngưỡng mộ đã lâu.”

Bà ấy nói giọng pha chút âm sắc tỉnh ngoài, gọn gàng, dứt khoát.

“Xưởng chúng tôi là doanh nghiệp tập thể mới thành lập từ năm ngoái, chuyên gia công hàng may mặc. Hệ thống sổ sách luôn trong tình trạng bất ổn, nghe danh cô xử lý êm đẹp vụ bên hợp tác xã, nên muốn nhờ cô sang xem giúp một chuyến.”

Tôi liếc nhìn chị Châu.

Chị Châu nháy nháy mắt với tôi, ý bảo: *Có mối hái ra tiền này.*

“Xưởng trưởng Trần, xưởng nhà chị có bao nhiêu công nhân?”

“Hơn năm mươi người. Chủ yếu là công nhân nữ, may áo sơ mi và quần âu.”

“Sổ sách tồn đọng từ bao giờ?”

“Từ tháng 3 năm ngoái lúc mới lập xưởng đến giờ, hơn một năm.”

Tôi nhẩm tính một lát.

“Phí điều động, mỗi tháng 150 tệ, nộp cho xưởng phúc lợi. Cá nhân tôi không thu thêm.”

Xưởng trưởng Trần hơi sửng sốt.

“Rẻ thế cơ à?”

“Tôi là người của xưởng phúc lợi, phí điều động là thu nhập của xưởng. Cá nhân tôi chỉ nhận tiền lương là đủ rồi.”

Xưởng trưởng Trần liếc mắt sang nhìn chị Châu.

Chị Châu bật cười xua tay: “Chị đừng nhìn em, con bé này tính tình nó vậy đấy. Giá cả là do nó tự ấn định, em cũng không khuyên nổi đâu.”

“Được.” Xưởng trưởng Trần đập tay lên cuốn sổ, “Bao giờ cô có thể sang làm việc?”

“Ngày mai.”

Hôm sau, tôi sang xưởng may.

Xưởng nằm ở phía đông huyện thành, là một dãy nhà cấp bốn nối liền nhau, trong sân giăng dây thép phơi đầy áo sơ mi đã may xong.

Đám nữ công nhân đang miệt mài bên máy khâu, thấy tôi chống nạng bước vào đều đồng loạt ngẩng lên nhìn.

Rồi lại cúi đầu tiếp tục làm việc.

Xưởng trưởng Trần dẫn tôi vào văn phòng làm việc, trên bàn là một núi sổ sách.

“Tất cả đều ở đây. Từ lúc mở xưởng tháng 3 năm ngoái đến nay.”

Tôi ngồi xuống, lật mở cuốn đầu tiên.

Sổ sách của xưởng may mặc đơn giản hơn hợp tác xã mua bán nhiều. Nhập vải, phụ liệu, xuất thành phẩm, rồi bán cho bách hóa hoặc các hộ kinh doanh cá thể.

Thế nhưng, lật đến tháng thứ tư, tôi phát hiện ra một điểm đáng ngờ.

Vải bông.

Một loại vải bông sợi mỏng dùng để may áo sơ mi. Trên hóa đơn ghi giá nhập là 1 tệ 2 hào một mét, đắt hơn giá thị trường 2 hào.

Mỗi tháng xưởng nhập 200 mét, ròng rã hơn một năm trời, chỉ riêng tiền vải thôi đã thâm hụt mất gần 500 tệ.

“Xưởng trưởng Trần, ai là người phụ trách thu mua vải bông cho xưởng mình?”

Sắc mặt Xưởng trưởng Trần hơi biến đổi.

“Một người tên là Triệu Kiến Quân. Cuối năm ngoái mới vào làm, trước kia từng làm ở xưởng dệt nên rất thạo việc về vải vóc.”

Triệu Kiến Quân.

Ngón tay tôi khựng lại trên bàn tính.

“Sao thế?” Xưởng trưởng Trần rướn người tới, “Sổ sách có vấn đề à?”

Tôi không đáp lời, tiếp tục lật xuống những trang sau.

Tất cả các loại vải do Triệu Kiến Quân chịu trách nhiệm thu mua, giá nhập đều cao hơn giá thị trường từ 10% đến 20%.