Không phải chữ của Hoắc Hoài An. Là đồng đội anh ấy viết thay.

“Đồng chí Thẩm Tri Ý: Người yêu của đồng chí là đồng chí Hoắc Hoài An trong lúc tuần tra biên phòng ngày 8 tháng 10 đã gặp bão tuyết, hiện đang được điều trị tại đội y tế của đoàn. Bị cóng ở chân phải, tạm thời không nghiêm trọng. Bộ đội đã sắp xếp thời gian dưỡng thương, xin đừng lo lắng.”

Tay cầm thư của tôi siết chặt lại.

Kiếp trước không có chuyện này. Hoặc nói cách khác, kiếp trước cũng có, chỉ là anh ấy không nói cho tôi biết.

Ngày hôm đó tôi lập tức đi bưu điện đánh điện báo.

“Hoắc Hoài An, chân khỏi chưa? Thiếu gì? Em gửi.”

Phí điện báo bảy xu một chữ, tôi tiếc từng chữ.

Ba ngày sau anh ấy hồi điện: “Chân khỏi rồi. Thiếu tất.”

Tôi thức đêm làm liền ba đôi tất bông dày, cùng hai hộp đồ hộp trái cây với một gói kẹo sữa, gói thành một kiện rồi gửi đi.

Trên phiếu gửi bưu kiện, tôi ghi chú: “Tất là loại dày, ở chiếc bên chân trái có khâu thêm một lớp bông, giữ ấm mu bàn chân. Ăn hết trước khi đồ hộp hết hạn, đừng tiết kiệm.”

Chị Triệu thấy tôi ngồi sau quầy may tất bông, bèn nói: “Cô quan tâm người yêu của cô thật đấy.”

Tôi không nói gì.

Kiếp trước anh ấy bị cóng chân lần đó, tôi hoàn toàn không hay biết. Đến khi anh ấy khỏi rồi về thăm nhà, tôi mới thấy ngón út chân phải của anh ấy đã đen đi.

Tôi hỏi anh ấy bị sao, anh ấy nói “Không sao, chỉ bị lạnh một chút”.

Sau đó ngón út ấy bị cắt đi rồi.

Kiếp này sẽ không như vậy nữa.

Giữa tháng mười một, một chuyện vốn đã nằm trong dự liệu rốt cuộc cũng xảy ra.

Vương Quế Phương tới nhà họ Hoắc chơi, ngồi trò chuyện với Hoắc đại nương.

Bà ta là đến để “báo cáo”.

“Thím à, tôi không phải nói xấu Tri Ý sau lưng, nhưng có những chuyện tôi không nói thì người khác cũng sẽ nói.”

Hoắc đại nương vừa khâu đế giày vừa nghe.

“Ở xưởng ngũ kim có thằng Tiểu Phương, mấy ngày lại chạy một chuyến tới cửa hàng cung tiêu, lần nào cũng nhắm đến quầy của Tri Ý. Hàng xóm láng giềng đều nhìn thấy cả. Tri Ý còn trẻ, không hiểu chuyện, Hoài An lại không có nhà, tôi làm mẹ mà không nhắc nó, thì ai nhắc?”

Kim khâu trong tay Hoắc đại nương dừng lại.

“Phương Quốc Đống?”

“Đúng đúng đúng, chính là cậu ta!”

Hoắc đại nương đặt đế giày xuống, nhìn Vương Quế Phương.

“Quế Phương à, cái Phương Quốc Đống mà cô nói, có phải là cậu thanh niên tiện ren ốc ở xưởng ngũ kim không?”

“Phải phải phải…”

“Thằng Tiểu Phương kia tháng trước đã kết hôn rồi. Cưới là con gái nhà lão Tôn ở trạm lương thực. Tri Ý còn mừng cưới năm đồng nữa.”

Biểu cảm trên mặt Vương Quế Phương lập tức cứng lại.

“Nó, nó kết hôn rồi à?”

“Ừ. Tri Ý kể với tôi, còn hỏi tôi có muốn đi ăn tiệc cưới không.” Hoắc đại nương cầm lại đế giày, “Quế Phương, sau này nghe được chuyện gì thì trước hết hỏi cho rõ rồi hẵng nói. Đừng có oan uổng đứa nhỏ.”

Mặt Vương Quế Phương lúc đỏ lúc trắng, ngồi cũng không xong mà đứng cũng chẳng xong.

Chuyện này vốn là cái bẫy tôi giăng sẵn từ trước.

Phương Quốc Đống quả thực đã kết hôn vào cuối tháng mười. Đối tượng của anh ta là cô gái ở trạm lương thực, hai người quen nhau nửa năm. Sau khi nghe chuyện, tôi cố ý đến mừng cưới, còn nhờ chị Triệu giúp mua ở cửa hàng cung tiêu một đôi chậu rửa mặt tráng men làm quà chúc mừng.

Phương Quốc Đống đã kết hôn rồi, Vương Quế Phương muốn lôi anh ta ra làm bài viết nữa thì chỉ thành trò cười.

Hoắc đại nương viết thư kể lại chuyện này cho Hoắc Hoài An, đúng sự thật từng li từng tí.

Lá thư là tôi giúp bà viết, bà kể tôi chấp bút. Cuối thư, tôi còn tự thêm một câu của mình: “Trong nhà đều ổn, anh cứ yên tâm.”

Tháng Chạp năm đó, đơn xin nghỉ phép thăm nhà của Hoắc Hoài An được duyệt.

Hai mươi ngày.

Ngày anh về đến nhà là mồng tám tháng Chạp, vào khoảng hơn ba giờ chiều.