Tân phòng lặng như tờ.

Tiêu Lẫm nhìn ta một cái, rồi lập tức rút giáp trụ từ rương, động tác nhanh đến kinh người.

“Đợi ta trở về.”

Cửa “rầm” một tiếng đóng lại, tân phòng chỉ còn ta và ngọn hồng chúc cháy dở.

Ta ngồi rất lâu, đến khi nến nổ một tiếng lách tách mới hoàn hồn.

Cúi đầu nhìn chiếc đoàn phiến trong tay, khẽ thở dài một hơi.

Nửa năm sau,

Chính thất phu nhân Hầu phủ lấy cớ phu thê xa cách ảnh hưởng tình cảm, sai người đưa ta đến biên quan.

Khi đi ngang Tam Chương huyện, trong huyện bỗng phát dịch bệnh, huyện lệnh hạ lệnh phong thành.

Ta bị kẹt lại trong thành.

Trong thành lòng người hoảng loạn, hiệu thuốc xếp hàng dài, trên phố thỉnh thoảng có người khiêng tấm ván đi qua, phủ vải trắng, không biết là sống hay chết.

Ta lại nhìn khắp thành hoa đỗ quyên nở rộ, chỉ thấy đẹp đến lạ.

Đỏ như lửa, hồng như mây, nở bất chấp tất cả, như muốn thiêu cháy cả sinh mệnh nơi núi rừng này.

Chỉ là bên cạnh thiếu một người cùng ngắm.

Ta nghĩ: người rồi cũng có ngày chết, chết nơi sơn thủy hữu tình thế này, cũng chẳng phải chuyện buồn.

15

Hai mươi ngày bị vây trong thành, hộ vệ bên cạnh ta lần lượt ngã bệnh.

Khi người hộ vệ cuối cùng sốt cao nói mê sảng, ta lau mặt cho hắn, rồi một mình bước ra khỏi khách điếm.

Phố xá trống vắng, phía xa có cây kết đầy quả đỏ.

Ta buộc váy quanh eo, trèo lên cây, hái một quả, bóc ra, thịt trắng óng ánh, nước chảy tràn trên đầu ngón tay.

Hóa ra vải thiều tươi thật sự ngọt hơn.

“Thẩm Tri Vi!”

Một cô nương che mặt bằng khăn trắng chạy đến, giọng trong trẻo lanh lảnh.

Nàng ngẩng đầu nhìn ta, mắt cong như trăng non:

“Đúng là cô! Ta thường nghe một người nhắc đến cô, nói cô là người tốt đẹp nhất thiên hạ!”

“Ai lại dùng lời khoa trương như vậy để nói về người khác?” Ta nhảy xuống khỏi cây.

Nàng chỉ cười, không đáp, rồi hỏi:

“Sợ chết không?”

Ta nói sợ.

Ánh sáng trong mắt nàng thoáng tối lại.

Ta lại nói:

“Sợ thì đã sao? Đời người ngắn ngủi, chết thì có gì đáng ngại?”

Nàng liền vui vẻ, nắm tay ta:

“Đi, ta dẫn cô đến một nơi!”

Không ngờ lại là đi gặp Cố Minh Chương.

Chàng nằm trên chiếc giường tre thô sơ, sắc mặt đỏ bừng, môi khô nứt.

Mà cô nương kia… chính là huyện chủ vốn được truyền là đã “đột tử” —— Khương Tình Tuyết.

Nàng đứng ở cửa, mắt đỏ hoe nói:

“Chàng đến đây vì cô.”

Ta sững người.

Khương Tình Tuyết kéo ta ra ngoài, vài câu đã kể rõ đầu đuôi.

Ba năm trước bệ hạ ban hôn, Cố Minh Chương viết tấu kháng chỉ, bị nàng chặn lại.

“Ta không muốn gả, chàng không muốn cưới,” nàng nói, “đã vậy chi bằng giả phượng hư hoàng.”

Nàng giúp chàng đứng vững ở Lĩnh Nam, chàng trả nàng tự do.

Khi ấy chàng viết thư cho ta, trong thư không tiện nói rõ, chỉ bảo “nhẫn ba năm”.

Chàng vẫn không yên lòng, suốt đêm hồi kinh, lại nghe tin ta đã gióng trống hòa ly.

“Lúc chàng đến, cô đang gióng trống,” Khương Tình Tuyết nhìn ta, “chàng muốn giải thích, lại nghe cô nói —— không cần chàng nữa, không cần người nam nhân bất lực ấy.”

Ta siết chặt tay áo.

“Nàng đau bảy phần, chàng đau mười phần.” Khương Tình Tuyết dừng lại một chút, “chàng vốn định bất kể thế nào cũng phải giữ cô lại, nhưng khi biết mẫu thân chàng đối xử với cô ra sao, vừa hổ thẹn vừa đau lòng. Nói rằng đã hứa kính cô, trọng cô, bảo vệ cô, vậy mà lại để cô chịu hết ủy khuất. Cuối cùng chàng quyết định buông tay, tiễn cô hồi tông.”

Trước mắt ta hiện lên cảnh đêm ấy.

Chàng cúi người hành lễ, nói “ta tiễn nàng hồi tông”, bóng lưng thẳng như tùng.

Hóa ra không phải giữ lễ.

Mà là đau lòng.

“Sau khi trở lại Lĩnh Nam, chàng bệnh suốt một tháng,” giọng Khương Tình Tuyết hạ thấp, “khỏi bệnh liền lao đầu vào công vụ ngày đêm không nghỉ. Ta nhìn không nổi bộ dạng sống dở chết dở ấy, bèn giả chết thoát thân. Sau khi ta đi, mẫu thân chàng nhiều lần ép chàng tái thú. Chàng làm như không nghe, chỉ nói đời này chỉ có một thê tử. Suốt ba năm, bên cạnh chàng không có bất kỳ nữ nhân nào. Nhớ cô, chàng liền lấy chiếc đoàn phiến ra nắm trong tay, như đang nắm tay cô vậy.”

16

“Đầu năm nay chàng thăng chức Tri phủ, mẫu thân cũng yên phận hơn,” Khương Tình Tuyết khẽ thở dài, “cuối cùng chàng mới có dũng khí đến gặp cô. Nhưng khi về đến kinh thành, lại nghe tin cô sắp gả cho Tiêu Lẫm.”

Nàng nhìn ta:

“Người cô gả là quý tử hầu môn, bốn lần đích thân đến cầu thân, cả kinh thành đều nói cô có phúc. Chàng cảm thấy có lỗi với cô, nào còn dám ngăn cản hạnh phúc của cô?”

Cổ họng ta nghẹn lại.

“Vì thế chàng tặng đoàn phiến làm lễ tiễn gả, chỉ mong cô viên mãn đoàn viên,” Khương Tình Tuyết cười nhạt, nụ cười đầy chua xót, “chàng nói, chỉ cần cô sống tốt, chàng cũng sẽ sống tốt.”

Ta cúi đầu, khẽ hỏi:

“Vậy vì sao chàng lại đến Tam Chương huyện?”

“Nửa tháng trước chàng biết cô sẽ đi ngang Lĩnh Nam, vốn không định đến, sợ quấy rầy cô. Nhưng mười ngày trước tin phong thành truyền ra,” Khương Tình Tuyết nhìn ta, “Thẩm Tri Vi, thân là Tri phủ, chàng vốn không cần phải tới nơi này. Vậy mà vẫn bất chấp nguy hiểm, ngày đêm phi ngựa xông vào. Cô nói xem là vì sao?”

Ta đẩy cửa bước vào.

Cố Minh Chương đã tỉnh, thấy ta, đồng tử chàng co lại.

Chàng gắng gượng muốn ngồi dậy, lại ho ra một ngụm máu, văng lên tấm chăn vải thô như một đóa hoa tàn.

“Tri Vi…” giọng chàng khàn đặc, “sao nàng lại đến…”

Ta bước đến bên giường, nắm lấy tay chàng.

Nóng rực, gầy đến mức xương cấn vào tay.

“Đừng nói,” ta khẽ bảo, “ta đều biết rồi.”

Vành mắt chàng đỏ lên, vẫn cố cười, nụ cười còn khó coi hơn khóc:

“Xin lỗi… không thể đưa nàng rời đi… ta lúc nào cũng… có lỗi với nàng…”

Ta cúi người, nhẹ tựa đầu vào cổ chàng.

Trên người chàng có mùi thuốc, mùi mồ hôi, còn thoang thoảng hương mực quen thuộc.

Ta nhắm mắt, không muốn nói gì nữa.

Không nói việc tái giá là bất đắc dĩ.