Ta ép chặt tờ thư vào ngực.
Ta nhớ chàng, Cố Minh Chương, chàng có biết không?
Mồng tám tháng tám, ta đội khăn voan đỏ ngồi trong kiệu.
Trong tay vẫn siết chiếc đoàn phiến cũ, đầu ngón tay hết lần này đến lần khác vuốt viên Nam châu.
Bỗng nhớ ngày chàng đi Lĩnh Nam, chàng nói:
“Tri Vi, ta không nỡ rời nàng.”
Nhớ lời chàng dặn trong thư:
“Nàng chớ tham ăn, vải dễ sinh nhiệt, mỗi ngày chỉ được mười quả.”
Nhớ viên đá hình thỏ:
“Lĩnh Nam nhiều kỳ thạch, viên này giống chăng?”
Dưới khăn voan, ta bỗng bật cười, cười rồi cười, nước mắt liền rơi xuống.
Kiệu hoa khởi hành, trống nhạc rền vang.
Qua rèm kiệu, ta thấy Cố Minh Chương đứng ở cửa, hai tay trống không.
Chiếc quạt, viên châu, đều đã ở chỗ ta.
Khi kiệu đi ngang qua chàng, ta khẽ gọi:
“Cố Minh Chương.”
Chàng nghiêng tai.
“Nếu có kiếp sau, đừng giữ lễ nữa.” ta nói.
Giọng chàng rất thấp, lẫn trong tiếng chiêng trống, gần như không nghe rõ:
“Kiếp này đã lỡ, ta không dám lỡ nàng lần thứ hai.”
Bấy giờ ta mới hiểu.
Chàng không phải không muốn tìm ta, mà là không dám.
Chàng sợ ta hối hận, sợ lỡ dở tiền đồ ta, sợ xuất thân hàn môn của chàng không cho ta được ngày tháng tốt.
Cho nên chàng hết lần này đến lần khác buông tay, từ chuyện huyện chủ đến hôm nay tiễn gả, đều là “vì tốt cho ta”.
Nhưng độc nhất trên đời, lại chính là thứ “vì tốt cho ngươi” ấy.
Kiệu đã đi xa.
Ta vén nhẹ một góc rèm, thấy chàng vẫn đứng nguyên tại chỗ, tay phải hờ nắm thành quyền —— chiếc quạt ấy, chàng nắm ba năm, nay rỗng không, e rằng đến lòng bàn tay cũng thấy lạ.
Yến hỷ ở Trấn Bắc hầu phủ bày chín mươi chín bàn, từ chính sảnh trải dài ra tận sân.
Tân khách như mây, mũ áo san sát, đến cả đầu phố cũng đậu kín xe ngựa.
14
“Giờ lành đã đến ——”
Tiếng pháo nổ vang trời, ta đội khăn hồng, được người dìu qua đám đông.
“Nhất bái thiên địa ——”
Ta cúi người, trước mắt chỉ một màu đỏ rực.
“Nhị bái cao đường ——”
Bái chính thất phu nhân của Hầu phủ, trán ta chạm vào chiếc đoàn phiến, dường như lại thấy con thỏ trắng nhuốm đầy máu.
“Phu thê đối bái ——”
Ta cứng người, đối diện với màu đỏ trước mắt, đối diện tân lang mà ta không nhìn thấy.
Bà mối phía sau véo nhẹ, thấp giọng thúc giục:
“Phu nhân, mau lên, giờ lành sắp qua rồi.”
Ta thật muốn nói —— vậy thì cứ để nó trôi qua đi!
“Phu nhân!”
Trong tiếng thúc giục gần như đe dọa ấy, ta vẫn cúi người.
Qua lớp khăn che, ta nghe thấy hơi thở nặng nề phía đối diện, mang theo mùi rượu, còn lẫn thứ gì khác không rõ.
“Đưa vào động phòng ——”
Có người reo hò.
Cũng có người bàn tán.
Ta bị dìu đi về phía sau, nhưng từng câu từng chữ vẫn nghe rõ ràng.
“Nghe nói vị tiến sĩ trước kia cũng đến.”
“Thiên kim thế gia, hòa ly rồi tái giá, mặt mũi Thẩm Thượng thư biết để đâu.”
“Suỵt, hôm nay đừng nhắc, đừng nhắc.”
Chuyện giữa ta và chàng… đã không thể nhắc tới nữa sao?
Ta ngồi trong tân phòng, vô thức lần từng tấc chiếc đoàn phiến trong tay.
Chợt phát hiện nơi xương quạt có một khe nhỏ.
Ta cẩn thận cạy ra, bên trong lại giấu một mảnh giấy.
Nét chữ của Cố Minh Chương, đề ngày ba năm trước:
“Tri Vi: Nam châu làm sính, nguyện bạc đầu không rời. Nếu trái lời thề, trời tru đất diệt.”
Phía sau còn thêm một dòng chữ nhỏ, mực còn mới:
“Đào chi yêu yêu, chước chước kỳ hoa. Chi tử vu quy, nghi kỳ thất gia.”
Ta ôm mảnh giấy ấy, cuối cùng không kìm được bật khóc thành tiếng.
Khóc đến xé tim xé phổi, ruột gan đứt đoạn.
Hồng chúc cháy đã nửa, tân phòng vẫn nồng mùi rượu.
Tiêu Lẫm nhẹ tay vén khăn che của ta lên.
“Thẩm Tri Vi, ta biết nàng không cam lòng. Nhưng ta sẽ…”
Chưa dứt lời, bên ngoài đột nhiên vang tiếng gõ cửa dồn dập.
“Tướng quân! Biên quan cấp báo!”
Tiêu Lẫm bật dậy, cửa bị đẩy tung, một trinh sát mình đầy máu ngã nhào vào:
“Bắc Địch tập kích ban đêm, liên phá ba thành! Hầu gia lệnh tướng quân lập tức dẫn viện binh ra biên quan!”