Phòng khách trở lại vẻ tĩnh lặng thường nhật, chỉ còn tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ trên tường.
Tích tắc. Tích tắc. Tích tắc.
Tôi ngả lưng xuống sô pha, trút một hơi thở dài nhẹ nhõm.
Ngoài cửa sổ, trời sắp hửng sáng.
Chân trời phía đông ửng lên một dải màu xám trắng mờ ảo, như thể ai đó vừa dùng tẩy xóa đi một góc của màn đêm.
Tôi cầm điện thoại lên, mở lại lịch sử cuộc gọi mã hóa.
Không có số điện thoại, không có địa chỉ, không có bất kỳ thông tin nào có thể truy vết.
Ngoài tôi ra, sẽ chẳng có ai trên đời biết đến sự tồn tại của cuộc gọi này.
Trừ khi, bọn họ sống sót trở về.
Tôi ngước nhìn ra ngoài cửa sổ.
Sao Mai treo lơ lửng nơi góc trời, vừa sáng vừa buốt giá.
Tôi chợt nhớ lại một câu chuyện từng nghe hồi nhỏ. Người ta bảo, gà gáy thì trời sáng. Nhưng nếu bịt mắt con gà trống lại, nó vẫn sẽ gáy, và trời thì vẫn cứ sáng.
Vì trời có sáng hay không, vốn dĩ chẳng liên quan gì đến chuyện con gà có gáy hay không.
Cũng giống như chuyện bọn họ có về được hay không, và việc tôi có bắt máy cuộc gọi đó hay không, vốn dĩ cũng chẳng có chút can hệ nào.
Tôi chỉ là một cô con gái đáng thương bị người nhà ruồng bỏ, một mình chật vật trả nợ trong nước, suy sụp báo cảnh sát sau khi nhận được ngón tay đứt lìa của mẹ, rồi lại nhận được cuộc gọi tống tiền từ bọn bắt cóc.
Tôi đã làm mọi thứ.
Những gì có thể làm, tôi đều đã làm.
Còn chuyện bọn họ có quay về được hay không, thì phải xem ý trời thế nào.
Dù sao thì, gà trống có biết đẻ trứng hay không, tôi chưa từng thấy bao giờ.
21
Trêu đùa đủ rồi.
Đó là ý nghĩ duy nhất hiện lên trong đầu tôi sau khi cúp cuộc gọi video đó.
Sau cuộc gọi ấy, bọn bắt cóc còn gọi lại vài lần nữa. Đều là những cuộc gọi mã hóa, không thể dò ra địa chỉ, và luôn gọi vào lúc đêm khuya. Tôi không bắt máy nữa.
Không phải vì sợ, mà là lười diễn rồi. Lần nào cũng phải gào khóc, cũng phải bù lu bù loa, cũng phải vờ như đau đớn tột cùng, mệt mỏi quá rồi. Hơn nữa nói thật lòng, đối diện với những khuôn mặt ấy, tôi đến khóc giả cũng chẳng nặn ra nổi nước mắt nữa.
Điện thoại rung mấy ngày rồi cũng dần im ắng. Có lẽ bọn bắt cóc cũng nhận ra, chẳng thể moi móc thêm được chút váng mỡ nào từ đứa con gái này nữa.
Tôi chẳng bận tâm.
Bây giờ không phải còng lưng nuôi lũ đỉa hút máu ấy nữa, lương của tôi tha hồ mà tiêu xài rủng rỉnh. Tiền hàng tháng muốn tiêu sao thì tiêu, không phải nộp thẻ lương, không phải mua sữa bột nhập khẩu cho cháu trai, không phải gánh nợ nặng lãi cho họ. Thích ăn lẩu thì đi ăn lẩu, thích mua quần áo thì đi mua quần áo, cuối tuần còn có thể rủ đồng nghiệp đi xem phim.
Cuộc sống nhỏ bé trôi qua thoải mái đến nhường nào.
Tôi thậm chí còn tự sắm cho mình một chiếc điện thoại mới. Số mới, màu mới, tất cả đều là đồ mới. Chiếc điện thoại cũ bị tôi tống vào ngăn kéo, chôn vùi cùng đống rác rưởi của quá khứ, khuất mắt coi như không tồn tại.
Tất nhiên, tôi thừa hiểu thái độ phớt lờ của mình rất có thể sẽ chọc điên bọn bắt cóc. Nhưng thế thì đã sao? Chúng còn có thể mọc cánh bay về cắn tôi được chắc?
22
Thời hạn năm ngày đã hết. Lại qua thêm hai ngày nữa, buổi chiều ngày thứ bảy, anh giao hàng lại xuất hiện.
Chiếc thùng lần này to hơn lần trước rất nhiều. Không phải thùng giấy các tông, mà là một chiếc thùng logistics cỡ trung bằng nhựa màu xám, phần miệng bị quấn mấy vòng băng dính vàng chóe. Khi đặt thùng xuống đất, nó phát ra tiếng động trầm đục, như thể bên trong chứa một vật gì đó rất nặng.
Anh giao hàng đưa phiếu ký nhận cho tôi: “Phiền chị ký nhận giúp em.”
Tôi cúi đầu ký tên, đợi anh giao hàng đi khuất mới ngồi xổm xuống xem xét kỹ lưỡng chiếc thùng. Bên hông thùng dán một tờ vận đơn, mục người gửi ghi “Anh Trương”, số điện thoại và địa chỉ đều là một mớ ký tự lộn xộn. Giống như lần