Thời gian chờ đợi rất dài.

Trong đại sảnh còn có những người thân khác, có người khóc thút thít, có người đang gọi điện sắp xếp hậu sự, có bà lão cứ lặp đi lặp lại hỏi người trẻ tuổi bên cạnh “khi nào mới có thể đưa nó về nhà”.

Cố Diễn Chu ngồi trên ghế dài, hai tay đan vào nhau, ngón cái vô thức cọ đi cọ lại.

Chu Đồng đi mua hai chai nước, đưa cho anh một chai.

Anh nhận lấy, nhưng không mở nắp, chỉ nắm trong tay.

Mãi cho đến khi mọi thủ tục kết thúc, chai nước đó vẫn chưa từng được mở ra.

Tro cốt được cho vào hộp.

Cố Diễn Chu tự tay nhận lấy.

Anh ôm nó trong lòng, rất chặt.

Một người đang sống sờ sờ, năm mươi cân máu thịt, cuối cùng biến thành một chiếc hộp gỗ nhỏ.

Nhẹ đến buồn cười.

Lúc rời khỏi nhà tang lễ, bên ngoài bắt đầu có mưa phùn.

Chu Đồng che ô, nghiêng về phía Cố Diễn Chu.

Cố Diễn Chu không né.

Anh cứ thế ôm chiếc hộp đi trong mưa.

Áo sơ mi rất nhanh đã bị thấm ướt, dán sát lưng, còn thấy rõ cả hình dáng xương bả vai.

Chu Đồng đuổi theo, “Cố tổng, dầm mưa sẽ bị cảm đấy.”

Anh không nói gì, đi thẳng về phía bãi đỗ xe.

Lên xe xong, anh đặt hộp tro cốt lên ghế phụ, đưa tay kéo dây an toàn, cài lại.

Chu Đồng ngồi ở hàng ghế sau, thấy cảnh đó, môi mím chặt thành một đường thẳng.

Ghế phụ.

Vị trí đó trước đây là tôi ngồi.

Mỗi lần lên xe, tôi đều có thói quen cài dây an toàn trước, rồi đặt tay lên bệ tỳ tay ở giữa.

Anh thỉnh thoảng cũng đặt tay sang, chạm vào tay tôi, không nắm, chỉ là chạm.

Cái hơi ấm mơ hồ ấy là sự dịu dàng hiếm hoi của anh.

Xe khởi động.

Anh lái rất chậm, như sợ xóc phải ai đó vậy.

Trước đây anh lái xe khá hung hãn, tôi ngồi ghế phụ thường hay nói anh, anh lái chậm chút đi, anh có phải chạy máy bay đâu.

Lần nào anh cũng nói, em mà thấy xóc thì ngồi ra sau đi.

Miệng thì dữ, nhưng đến khúc cua tiếp theo quả thật sẽ giảm tốc.

Nhưng hôm nay anh lái chậm hơn bất cứ lần nào.

Chậm đến mức mấy chiếc xe phía sau bấm còi mấy lần.

Anh như hoàn toàn không nghe thấy.

17

Nghĩa trang ở trên ngọn núi vùng ngoại ô phía tây thành phố, lái xe mất bốn mươi phút.

Không lớn, nhưng yên tĩnh.

Là nơi mẹ tôi chọn.

Bà nói Niệm Niệm sợ ồn ào, tìm một chỗ thanh tịnh.

Lúc hạ táng lại đổ mưa.

Sang thu rồi, mưa lạnh lắm, rơi lên mặt như băng.

Cuối cùng mẹ tôi vẫn đến.

Là Tiểu Diệp dìu bà đến, bà mặc một chiếc áo khoác màu xám, tóc mấy ngày nay bạc đi không ít.

Có lẽ trước đây cũng đã có tóc bạc, nhưng tôi chưa từng để ý.

Bà đứng trước bia mộ, không khóc.

Có lẽ là không còn sức để khóc nữa rồi.

Bà ngồi xổm xuống, dùng lòng bàn tay chậm rãi lau tên tôi trên bia mộ.

Từng nét từng nét mà vuốt qua, như đang viết chữ.

Tô, Niệm.

Bà lau hai lần.

Sau đó đứng dậy, phủi bụi trên đầu gối.

“Niệm Niệm, mẹ đi đây, lần sau lại đến thăm con.”

Bà đi rồi.

Tiểu Diệp đỡ bà, từng bước từng bước đi xuống núi.

Đi đến chỗ rẽ, bà dừng lại một chút, ngoảnh đầu nhìn một cái.

Ánh nhìn đó tôi đã đón lấy.

Dù rằng bà không thể nhìn thấy tôi.

Mẹ tôi, nguyện vọng lớn nhất cả đời này của bà, chính là tôi sống tốt.

Hồi nhỏ nhà nghèo, bà tằn tiện từng đồng để nuôi tôi đi học.

Ngày tôi đỗ đại học, bà đã khóc ở quầy bán hàng trong chợ rau. Chị bán đậu phụ bên cạnh còn tưởng xảy ra chuyện gì, chạy qua hỏi.

Mẹ tôi nói không sao, là vui quá thôi.

Sau này tôi gả cho Cố Diễn Chu, bà đặc biệt hài lòng.

Không phải vì Cố Diễn Chu có tiền — khi đó anh ấy chẳng có bao nhiêu tiền.

Mà là vì bà thấy chàng trai này thật thà, làm việc không lười biếng, đối với tôi tuy miệng lưỡi ngốc nghếch một chút, nhưng bản tính chính trực.

Có quá nhiều chuyện bà không biết.

Không biết chuyện của Lâm Khê, không biết chuyện đứa bé, không biết mấy năm qua tôi đã nuốt xuống bao nhiêu ấm ức.

Tôi chưa từng kể với bà.