Tôi về nhà, mở cuốn sổ ra, xem lại từ đầu đến cuối một lượt.
Vấn đề không phải là hàng hóa không tốt, mà là không bán ra được, hoặc bán ra được nhưng lại không được giá.
Con đường này, thời học đại học tôi đã từng nghĩ tới.
Chỉ là khi ấy tôi tưởng mình đã thoát ra ngoài, không cần phải quay lại nhúng tay vào vũng bùn này nữa.
Nhưng bây giờ, đây lại là chuyện của tôi rồi.
Tôi mở máy tính lên, bắt đầu tra cứu các nền tảng nông sản của các thành phố lớn, tra giá thị trường thực phẩm hữu cơ, tra tình hình thu mua dược liệu.
Tra đến tận nửa đêm, mắt rít lại thì gục đầu xuống bàn chợp mắt một lúc, tỉnh dậy lại tra tiếp.
Ứng Nhu từng bước vào một lần, thấy tôi như vậy, chị không nói tiếng nào, nhẹ nhàng khép cửa sổ lại, rồi lui ra ngoài.
Ngày thứ ba, tôi bắt đầu lên kế hoạch.
Không phải loại kế hoạch hào nhoáng sáo rỗng, mà là những điều thiết thực nhất: bản này có những sản phẩm gì, những thứ đó có thể bán đi đâu, bán thế nào, bước đầu tiên làm gì, bước thứ hai làm gì.
Viết rồi sửa, sửa rồi lại viết, viết đến bản nháp thứ ba, tôi mới cảm thấy có thể đem ra nói chuyện được.
Ngày thứ năm, tôi xuống núi ra trấn, tìm một điểm đại lý chuyển phát nhanh, bàn bạc chuyện hợp tác.
Ngày thứ sáu, tôi dùng hai ngàn tệ tiền làm thêm hồi đại học tiết kiệm được, đăng ký một cửa hàng trực tuyến.
Ngày thứ bảy, tôi quay về, chụp ảnh dược liệu của ông lão Tần, nấm muối của bà Vương, khoai lang của chú A Cổ.
Ảnh chụp rất đỗi bình thường, nhưng ở phần giới thiệu tôi viết rất dụng tâm, viết về nơi sản xuất, cách làm, và những câu chuyện đằng sau mỗi món đồ.
Dược liệu ba mươi năm của ông lão Tần, bí phương muối nấm truyền lại hai đời của bà Vương, thời gian đón nắng và thổ nhưỡng mảnh đất của chú A Cổ.
Tuần đầu tiên mở cửa hàng, không có lấy một đơn.
Tuần thứ hai, có người đặt hàng, mua nấm muối của bà Vương, một lọ, mười tám tệ.
Bà Vương nghe tin có người mua, đứng ở cửa, lật đi lật lại vạt tạp dề đến ba lần, hỏi tôi: “Có người mua thật sao?”
“Thật ạ,” tôi đáp, “Vài hôm nữa là xuất hàng.”
Bà ngẩn ra một hồi, rồi cúi đầu, lấy tạp dề lau khóe mắt.
Tôi giả vờ như không thấy.
10
Một tháng sau, cửa hàng đã có lứa khách quen ổn định đầu tiên.
Không nhiều, chừng mười mấy người, nhưng cứ cách một khoảng thời gian họ lại đặt hàng, còn để lại những bình luận dài trên trang, khen đồ ngon, vị chuẩn, nói muốn mua lại.
Tôi chụp màn hình những bình luận đó, in ra từng tờ, mang cho ông lão Tần và mọi người xem.
Ông lão Tần đeo cặp kính lão, nâng tờ giấy lên đưa ra chỗ sáng nhìn thật lâu, mới cất giọng: “Người thành phố viết thế này sao?”
“Người thành phố viết đấy ạ.”
Ông hạ tờ giấy xuống, ho húng hắng một tiếng: “Vậy là tốt thật rồi.”
Tôi bảo: “Là đồ thật sự tốt mà, mọi người làm bao nhiêu năm nay, chất lượng chưa từng suy suyển.”
Ông không nói gì, quay mặt đi, nhìn ra ngọn núi ngoài cửa sổ.
Trên núi sương mù giăng kín, trắng xóa, phủ lấp cả đỉnh núi, chỉ để lộ ra một đoạn eo núi xanh mướt.
“Hồi trẻ, ta cũng muốn ra ngoài,” ông bỗng lên tiếng, “Nhưng rồi không ra được.”
“Bây giờ,” ông ngừng lại, “Đồ của ta lại ra ngoài được rồi.”
Tôi không đáp lời.
Chỉ ngồi đó, cùng ông ngắm ngọn núi ấy một lúc.
—
Hai tháng sau, tôi nhận được cuộc gọi thu mua số lượng lớn đầu tiên từ thành phố.
Đối phương là một công ty nhỏ chuyên về thực phẩm hữu cơ, nhìn thấy cửa hàng của tôi trên mạng, muốn bàn chuyện hợp tác.
Tôi hẹn họ gặp mặt trên trấn.
Hôm đó tôi mặc bộ quần áo chỉnh tề nhất, ngồi trong quán trà tử tế duy nhất trên trấn, trải bản kế hoạch ra bàn.
Đối phương cử hai người đến, đều là thanh niên chừng ba mươi tuổi, ăn mặc thoải mái, thái độ nhã nhặn.