“Tộc trưởng,” tôi nói, “Ông có sẵn lòng cho cháu một cơ hội, để cháu thử đi một con đường khác không?”
8
Không ai lên tiếng.
Tiếng trống cũng đã dứt, chẳng biết dứt từ lúc nào.
Cả từ đường lặng ngắt như thể thời gian bị ấn nút tạm dừng.
Tộc trưởng siết chặt tẩu thuốc trong tay.
Rồi ông hỏi: “Cháu nghĩ kĩ rồi chứ?”
“Nghĩ kĩ rồi ạ.”
“Cháu nên biết, nếu cháu làm vậy, trong bản sẽ có người không đồng tình.”
“Cháu biết.”
“Cháu nên biết, con đường này chưa từng có ai đi, cháu có thể chẳng nhận lại được gì, uổng phí mấy năm trời.”
“Cháu biết.”
Tộc trưởng nhìn tôi, trong ánh mắt có thứ gì đó đang thay đổi: “Phía bố mẹ cháu…”
“Ý kiến của họ,” tôi nói, “Cháu sẽ tham khảo, nhưng không chịu trách nhiệm nghe theo.”
Bên cạnh có người “Ái chà” một tiếng, dường như bị kinh ngạc bởi câu nói này.
Tộc trưởng lại bật cười.
Đó là lần đầu tiên tôi thấy ông cười, những nếp nhăn trên khuôn mặt gầy guộc xô lại vào nhau, nụ cười trông như một cái cây cổ thụ nứt toác ra một khe hở.
“Được,” ông nói, “Vậy tạm thời khoan hãy sắc phong.”
“Cho cháu một năm,” ông nói, “Trong vòng một năm, cháu phải cho ta thấy bản có sự thay đổi.”
“Một năm sau, nếu cháu làm được, quy củ của Thánh nữ, chúng ta sẽ bàn lại.”
“Nếu không làm được…”
“Nếu không làm được, cháu sẽ trở về nhận sắc phong,” tôi đáp, “Tuyệt đối không nuốt lời.”
Ông gật đầu.
Sau đó ông vung tay về phía sau, phẩy một cái: “Giải tán đi.”
Đám đông bắt đầu tản ra, lác đác bước ra ngoài.
Bố mẹ chen tới, mẹ kéo tay tôi: “Ứng Ninh, con làm cái gì vậy, con phá hỏng buổi lễ của Tộc trưởng rồi…”
“Mẹ,” tôi nói, “Tộc trưởng đồng ý rồi.”
Bà sững người.
“Ông ấy cho con một năm,” tôi nói, “Trong vòng một năm, con sẽ chứng minh rằng Thánh nữ không cần phải nhốt lại vẫn có thể che chở cho bản.”
Mẹ nhìn tôi, nhất thời không biết nói gì.
Bố đứng bên cạnh, dụi tắt điếu thuốc, trầm giọng nói: “Ứng Ninh, trong lòng con tự biết tính toán là được.”
Tôi gật đầu.
Rồi tôi ngẩng đầu, nhìn lướt qua bức chân dung Thánh nữ treo chính giữa từ đường.
Người phụ nữ trong tranh mặc váy trắng, hàng mày thanh tịnh, không vương hỉ nộ.
Tôi nhìn chằm chằm vào đôi mắt đó một lúc.
Sau đó xoay người, bước ra ngoài.
9
Những ngày sau đó, tôi không hề rảnh rỗi.
Ngày hôm sau, tôi thay bộ váy trắng, mặc quần áo bình thường, đeo ba lô đi tìm mấy người lớn tuổi làm nghề thu mua lâm sản trong bản.
Ông lão Tần, ba mươi năm làm nghề thuốc.
Bà Vương, chuyên muối nấm rừng, hương vị muối nấm của bà là bí phương gia truyền.
Còn có chú A Cổ, thầu một vùng đất núi rộng lớn, chuyên trồng một loại khoai lang đặc hữu của địa phương, bên ngoài rất khó mua được.
Tôi gõ cửa từng nhà, ngồi xuống uống trà, hỏi họ đem đồ bán đi đâu, bán thế nào, một năm kiếm được bao nhiêu.
Ông lão Tần rít điếu thuốc, nói: “Thì cứ bán cho tiệm thuốc trên trấn thôi, họ thu một cân bao nhiêu tiền, thì chúng ta bán bấy nhiêu tiền, không có chỗ thương lượng.”
“Vậy tiệm thuốc trên trấn, chuyển tay bán cho người trên phố, một cân họ lấy bao nhiêu?”
Ông lão Tần nghĩ ngợi: “Nghe bảo đắt lắm, nhưng ta không rõ cụ thể là bao nhiêu.”
Tôi ghi chép lại.
Bà Vương nói: “Người thành phố thích ăn nấm muối của ta lắm, nhưng ta không quen biết ai trên đó, chỉ đành nhờ người trên trấn mang đi giúp, mỗi lần mang đi họ cắt mất hai phần hoa hồng.”
“Hai phần,” tôi ghi lại, “Vậy tính ra một năm, kiếm được bao nhiêu?”
Bà Vương bẻ ngón tay nhẩm tính: “Trừ đi hai phần đó, một năm cùng lắm cũng chỉ được hai, ba ngàn tệ.”
Tôi không nói gì, cẩn thận ghi lại những con số vào sổ.
Chú A Cổ bảo: “Khoai lang thì từng có người trên thành phố xuống thu mua rồi, nhưng năm đó họ đến một lần, sau này chẳng thấy đến nữa, chúng ta cũng không biết cách nào liên lạc với họ.”