“Món rẻ nhất ở đây là gì?”

“Chè đậu đỏ, sáu tệ một bát.”

“Cho tôi một bát.”

Ăn xong, chị ấy đẩy chiếc bát về phía tôi.

“Không ngọt gắt. Mai tôi lại đến.”

Ngày hôm sau, chị ấy thật sự quay lại, còn dẫn theo hai người nữa.

Đến cuối tháng, mỗi ngày tôi đã bán được bốn mươi bát chè.

Thỉnh thoảng tan làm sớm, chị lao công lại ngồi ở quán tôi nghỉ chân, kể đủ chuyện trong khu phố.

Nhà ai vừa có con dâu sinh em bé, con nhà ai vừa thi đỗ đại học, hôm nay giá cá ở chợ bao nhiêu.

Chị ấy chưa từng hỏi tôi đến từ đâu.

Bác sĩ nói vết thương ở thắt lưng tôi hồi phục rất chậm, đứng lâu sẽ bị tê.

Tôi mua một chiếc ghế cao.

Mỗi khi chân tê, tôi lại ngồi nghỉ một lúc rồi tiếp tục đứng dậy làm việc.

Cuối tháng Mười Hai, luật sư Trần gửi đến một phong bì dày cộp.

Bên trong có hai bản án.

Lâm Nhược Nhược, mười ba năm tù.

Lâm Khải Phong, ba năm tù.

Đến đầu xuân năm sau, luật sư Trần lại gọi điện cho tôi.

Lâm Khải Phong được giảm án ba tháng, đã ra tù sớm.

Ngày anh ta được thả, chẳng có ai đến đón.

Vợ anh ta đã ly hôn từ lâu, con gái cũng đổi họ.

Anh ta tìm đến những người đồng nghiệp cũ để vay tiền, nhưng người ta đều đóng cửa không tiếp.

Gương mặt anh ta từng xuất hiện trên bảng tìm kiếm thịnh hành suốt một tháng, gần như cả thành phố đều nhận ra.

Bây giờ anh ta sống dưới gầm cầu, nhận sửa xe đạp thuê, mỗi lần lấy năm tệ.

Luật sư Trần ngập ngừng một lúc qua điện thoại rồi hỏi:

“Phu nhân, cô thật sự không muốn gặp bất kỳ ai sao? Dù sao anh ta cũng là…”

“Luật sư Trần. Anh có biết lúc tôi rơi xuống sông, anh ta đứng trên bờ đã hét lên điều gì không?”

Luật sư Trần im lặng.

“Anh ta hét: Nhược Nhược, đừng sợ.”

“Cứ như vậy đi. Lâm Mạt Mạt đã chết rồi.”

Cúp điện thoại, tôi kéo cửa cuốn xuống một nửa, tiếp tục thái khoai môn.

Trong phong bì còn có một xấp thư.

Luật sư Trần nói, tất cả đều là những lá thư Gia Thụ viết cho người mẹ đã qua đời của mình.

Hạ Nghiễn Xuyên không nỡ đốt chúng, nên nhờ luật sư Trần giữ hộ.

Luật sư Trần gom góp suốt một năm, đến giờ mới gửi tất cả cho tôi.

Lá thư đầu tiên chỉ có một dòng:

“Mẹ ơi, mẹ chết rồi sao?”

Lá thứ bảy là một bức tranh.

Một người tí hon rơi xuống nước.

Trên bờ có ba người, cả ba đều mọc nanh nhọn.

Lá thư thứ mười bốn:

“Bố đốt hết đồ của dì Nhược Nhược rồi. Dì Trương nấu ăn cũng mặn giống mẹ.”

Lá thư thứ hai mươi hai:

“Con mơ thấy món kẹo hoa quế mẹ làm. Khi tỉnh dậy, gối đã ướt hết. Bố nói giấc mơ thường trái ngược với sự thật. Con hỏi bố trái ngược nghĩa là thế nào, bố không nói gì.”

Lá thư cuối cùng:

“Mẹ ơi, hôm nay cô giáo dạy câu chuyện mất cừu mới lo sửa chuồng. Con giơ tay hỏi, nếu sửa chuồng xong rồi, con cừu có quay về không? Cô giáo không hiểu ý con.”

Tôi sắp xếp những lá thư theo đúng thứ tự, cất vào ngăn kéo dưới cùng của quầy hàng.

Mùa thu năm sau, việc kinh doanh của cửa hàng ngày càng khấm khá.

Tôi đặt thêm một chiếc bàn nhỏ bên cạnh biển hiệu, bán cả bánh tart trứng mới nướng.

Ông cụ sửa giày ở cửa hàng bên cạnh ngày nào cũng đến chiếm chỗ ngồi đầu tiên.

“Chị Ngọt à, bánh tart trứng của cô chẳng ngọt gì cả.”

Khách quen đều gọi tôi là chị Ngọt.

Không ai biết tôi đến từ đâu.

Qua mùa cao điểm, tôi thuê thêm một người phụ việc.

Đó là cháu gái của bà cụ nhà bên cạnh, tranh thủ kỳ nghỉ hè đến kiếm tiền đóng học phí.

Cô bé rất hoạt ngôn, vừa rửa bát vừa hỏi:

“Chị Ngọt, sao chị lại mở quán một mình vậy?”

“Chị học nghề này từ ai? Người nhà chị đâu?”

Tôi đáp:

“Chị học nghề từ một người lớn tuổi.”

“Thế còn người nhà chị?”

“Ở một nơi rất xa.”

“Họ không nhớ chị sao?”

Tôi đổ nước đường vào khuôn, tay vẫn không ngừng làm việc.

“Không biết.”

“Thế còn chị? Chị có nhớ họ không?”

“Không nhớ.”

Cô bé bĩu môi.

Khi hoa quế nở, tôi nấu một mẻ kẹo rồi gửi về phía Bắc.

Tôi tính toán để món quà được gửi đi đúng vào ngày sinh nhật Gia Thụ.

Luật sư Trần nhắn tin trả lời:

Đứa bé ôm hộp kẹo khóc suốt cả buổi chiều.

Đến chập tối, hai bố con đến ngôi mộ gió bên bờ sông, đặt tám viên kẹo ngay ngắn trước bia mộ, từng viên một.

Bố thằng bé đứng bên cạnh suốt cả đêm.

Ngày hôm sau, luật sư Trần lại gửi một tin nhắn:

Cậu chủ nhỏ đã ngồi trước bia mộ rất lâu.

Trước khi rời đi, thằng bé để lại viên đẹp nhất trong tám viên kẹo. Bảy viên còn lại, nó cất hết vào túi áo, không nỡ ăn dù chỉ một viên.

Luật sư Trần hỏi tại sao.

Thằng bé nói:

“Mẹ từng bảo những thứ tốt đẹp phải để dành một phần cho nàng tiên răng.”

Luật sư Trần nói, khi nghe thấy câu ấy, bố thằng bé đã ngồi xổm xuống, rất lâu cũng không đứng dậy nổi.

Tôi không trả lời tin nhắn.

Tôi úp điện thoại xuống thớt, tiếp tục thái khoai môn.

Một buổi chiều cuối tháng Mười, trước lúc dọn hàng, tôi nhìn thấy hai bóng người đứng bên kia đường.

Một lớn, một nhỏ.

Đứa bé níu tay áo người lớn, chỉ về phía tôi.

Cách nhau cả một con đường đông nghịt xe cộ, tôi loáng thoáng nghe thấy tiếng nó.

“Bố, người kia có phải mẹ không?”

Người lớn ngồi xổm xuống, chỉnh lại cổ áo cho đứa bé.

Sau đó, anh ta nắm tay con, đi về phía bến phà.

Đi được vài bước, đứa bé ngoảnh đầu lại.