“Dư cô nương, cô nương nói Sử quan chỉ ghi chép không cất lời. Thế nhưng cô nương đã bao giờ nghĩ tới, nếu bản thân sự ghi chép, vốn dĩ đã là một cách cất lời?”
Ta sững người.
Y ngước mắt lên, đối diện với ta.
“Tổ phụ Dư Bá An của cô nương, làm Thái Sử Lệnh trọn kiếp người. Lão đã ghi chép cả một đời, cũng ngậm miệng im lặng cả đời. Nhưng trước lúc lâm chung, lão lại trao truyền bí mật này cho cô nương. Tại sao?”
“Bởi vì lão biết, có những thứ ghi chép, không thể mãi mãi chôn vùi trong câm lặng.”
“Lúc nên mở lời mà không mở lời, và lúc nên ghi chép mà chẳng ghi chép, thảy đều là tội.”
Gian trà thất chìm vào thinh lặng hồi lâu.
Ta nghe rõ nhịp tim của chính mình, từng nhịp, từng nhịp, rất chậm, rất nặng.
“Quốc sư đại nhân, ngài muốn ta nói điều gì?” Ta nghe thấy giọng mình khô khốc vẳng lại.
Thẩm Tố đặt chén trà xuống. Chén trà va chạm xuống mặt bàn một tiếng “kịch” thật khẽ, tựa như trần ai lạc định.
“Hiện tại vẫn chưa đến lúc, ta có thể đợi cô nương.”
Y ngập ngừng, như đang đắn đo tìm từ ngữ.
“Chờ khi nào cô nương cảm thấy có thể cất lời, hãy quay lại đây.”
Y bước ra ngạch cửa, vạt áo quét qua khung cửa. Ta ngỡ y đã rời đi, y bỗng khựng bước, hơi nghiêng đầu, sườn mặt hướng về phía ta.
“Về phần tỳ nữ kia của cô nương.”
Ngón tay ta trong tay áo bấu chặt.
“Triệu Hổ là người của ta.” Lúc nói ra câu ấy, ngữ khí của y phẳng lặng, y hệt như đang cảm thán thời tiết hôm nay thật đẹp. “Đó không phải là hành sự phong cách của ta, ta cũng chẳng thèm bày ra vở kịch này.”
Y im lặng chốc lát.
“Có những kẻ, có những chuyện, cô nương đã từng ngăn cản, phải không.”
Ta không đáp lời.
Y cũng chẳng để ta cơ hội đáp lại. Đẩy cửa bước ra, ánh tuyết ùa vào, y tiến thẳng vào vạt sáng trắng xóa ấy.
“Cô nương rõ ràng hơn ai hết.” Âm thanh từ trong luồng sáng truyền tới, bức bối trầm đục.
Y đi rồi.
Gian trà thất chỉ còn lại một mình ta, và chén trà lạnh ngắt.
Ngoài song cửa, cành lá gốc mai già khẽ đung đưa trong gió. Ta thấy một chiếc lá vàng lìa cành, chao nghiêng đáp xuống bậc cửa sổ, rồi bị cơn gió tiếp theo cuốn bay đi.
Ta nhìn thấy nó sẽ rơi xuống hồ Thái Dịch.
Thấy nó sẽ nổi trôi trên mặt nước ba ngày liền.
Thấy nó cuối cùng chìm xuống, vùi lấp dưới lớp bùn lầy đáy hồ, trăm năm sau hóa thành mảnh hổ phách, được một đứa trẻ buông câu vớt lên.
Đứa cháu nội của đứa trẻ đó, sẽ trở thành Thái Sử Lệnh kế nhiệm.
Đó chính là năng lực của Sử quan.
Nhìn thấy quá khứ, thấu tỏ tương lai, nhìn thấu đường tơ nhân quả vô hình giăng mắc giữa vạn sự vạn vật.
Thế nhưng Thẩm Tố nói đúng.
Việc nhìn thấy, bản thân nó đã là một dạng cất lời.
Từ lúc rời Đan Hà quan trở về, trong cung yên ắng đi một đoạn thời gian.
Hoàng đế không còn triệu kiến ta, Thẩm Tố cũng bặt vô âm tín. Chỉ mùng một mười lăm mỗi tháng, ta nương nhờ lệnh bài Cao Đức An đưa vào cung, dâng mình đến Từ Ninh cung của Thái hậu sao chép kinh Phật. Thái hậu là vị lão phụ nhân kiệm lời, quanh năm suốt tháng ngoài tụng kinh thì chỉ chăm nom hoa cỏ, đối đãi với sự hiện diện của ta không vồn vã cũng chẳng lạnh nhạt, tựa hồ ta chỉ là cuộn kinh văn thừa thãi trong Phật đường.
Ngày tháng như vậy trôi qua hai tháng.
Ta ngỡ mọi chuyện sẽ cứ thế dần dần lắng xuống. Ta giữ kín bí mật, rời xa trung tâm vòng xoáy, đợi mọi chuyện trần ai lạc định, sẽ mang Thanh La rời khỏi Thượng Kinh, đến một nơi không ai biết danh tính ta.
Nhưng tương lai ta nhìn thấu lại báo cho ta biết, đây chỉ là khoảng bình lặng trước cơn bão.
Mùng năm tháng năm Tết Đoan Ngọ, Hoàng hậu triệu ta nhập cung.
Trung cung của Hoàng hậu ngự ở phía đông hoàng thành, quy mô đồ sộ gấp đôi Từ Ninh cung của Thái hậu. Lúc ta bước vào, Hoàng hậu đang ngự trên phượng ỷ, tả hữu có hai nữ quan đứng hầu, còn có cả một kẻ quen mặt