Gian trà thất lặng như tờ, y buông những lời ấy nhẹ bẫng, như thể đang kể một câu chuyện vô thưởng vô phạt. Tiếng hạc ngoài song cửa lại cất lên.
“Cô nương e sợ ta, cớ vì sao? Chúng ta dường như chưa từng giáp mặt.”
Ta nhìn thẳng vào mắt y. Sương mù dày quá, đặc quánh đến mức ta chẳng thể nhìn xuyên. Nhưng chính sự “không thể nhìn xuyên” này, lại gọi về giấc mộng kiếp trước — cửa lò bật mở, y bước ra từ biển lửa, cả nhân gian chìm trong bão lửa.
“Quốc sư đại nhân, ta không sợ ngài.”
“Ồ?”
“Ta sợ lửa.” Nửa câu sau ta giấu nhẹm đi, thứ ta sợ, là lửa bén đến thân mình.
Bàn tay đang bưng chén trà của y thoáng khựng lại.
Chỉ là một khoảnh khắc rất nhỏ, nhanh đến mức tưởng như chẳng thể phát giác. Nhưng ta đã nhận ra. Kiếp trước bị giam cầm bảy năm, ta mỗi ngày đều để mắt đến những kẻ đưa cơm, đưa thuốc, hỏi han cung hình. Quan sát từng biểu cảm biến ảo trên gương mặt họ, là chuyện duy nhất ta có thể làm.
Thẩm Tố đặt chén trà xuống, nhìn ta.
Ánh mắt y biến đổi. Không phải trở nên sắc bén hơn, mà là thêm phần thâm trầm. Cái sự thâm trầm ấy, tựa như một kẻ đột ngột xác nhận được điều gì đó.
“Dư cô nương, ta hỏi cô nương một chuyện.”
“Quốc sư cứ hỏi.”
“Tổ phụ cô nương là Dư Bá An, trước khi tạ thế, đã nói gì với cô nương?”
“Sử quan chỉ ghi chép, không cất lời.”
“Không đúng.” Y lắc đầu, “Đó là lời ngoài sáng. Lời cất giấu trong tối, ông ấy chưa nói ra, nhưng cô nương tường tận.”
Những ngón tay giấu trong tay áo của ta khẽ siết chặt.
Thẩm Tố đứng dậy, bước đến bên cửa sổ, quay lưng về phía ta. Nắng kéo bóng y trải dài, kéo dài đến tận gót chân ta, tuyệt không vượt quá nửa phân.
“Thái Sử cục mười một đời. Bắt đầu từ đời Thái Sử Lệnh đầu tiên là Dư Quan, Dư gia đã nắm giữ một bí mật.” Tiếng y theo gió vọng tới, thong dong mà từ tốn, “Bí mật này, Sử quan mọi thời đại đều biết rõ, nhưng không một ai dám chắp bút ghi vào sử sách.”
“Bởi vì những thứ ghi vào sử sách, gọi là lịch sử.”
“Còn những thứ không được ghi lại, gọi là thiên cơ.”
Y xoay lưng lại, ngược chiều ánh sáng mà nhìn ta. Gương mặt chìm trong bóng râm, duy chỉ đôi mắt là sáng bừng rực rỡ.
“Dư cô nương, tổ phụ cô nương đã đem thiên cơ truyền lại cho cô nương.”
“Có đúng không?”
Trà đã nguội ngắt.
Bên ngoài lại vọng đến một tiếng hạc, the thé hơn ban nãy.
Ta cúi đầu rũ mắt nhìn hình bóng mình soi dưới đáy chén. Mặt nước phản chiếu dung nhan tuổi mười lăm, ngây ngô, nhợt nhạt, nhưng trong đôi mắt lại hằn sâu thứ chất chứa mà tuổi mười lăm không nên có.
“Quốc sư đại nhân.” Ta ngẩng đầu lên, “Ngài luyện đan, là vì cớ gì?”
Y nín lặng, chẳng đáp lấy một lời.
Ta tiếp lời: “Bệ hạ mong cầu trường sinh, thế nên Quốc sư luyện đan. Việc này khắp cả triều đình đều hay. Nhưng ta lại nhìn thấy—”
Ta ngưng bặt, không có ý định nói thêm.
Thẩm Tố nhìn ta, mang theo vài tia dò xét: “Cô nương nhìn thấy điều gì?”
Ta nhìn thấy cửa lò bật mở, ngài bước ra từ ngọn lửa bừng bừng.
Ta nhìn thấy cả nhân gian chìm trong biển lửa.
Ta nhìn thấy ngài đứng giữa trung tâm cõi trần rực cháy, vạt đạo bào màu nguyệt bạch bám đầy tro tàn, chỉ riêng cành đào thêu nọ là nguyên vẹn vẹn toàn.
Nhưng, ta không thể nói.
“Ta nhìn thấy trên vạt đạo bào của Quốc sư đại nhân có thêu hoa đào.”
“Đạo sĩ ở Thượng Kinh, chẳng ai lại đi thêu hoa lên đạo bào.”
Thẩm Tố im lặng một đỗi, bỗng bật cười.
Nụ cười nhàn nhạt, tựa nụ mai đầu đông hé nở.
“Đây là hoa ở quê hương ta.” Y cất lời, “Ta rời xa quê hương quá lâu, rốt cuộc cũng phải mang theo chút gì đó bên mình.”
Y bước trở lại, ngồi xuống đối diện ta, giũ nhẹ vạt tay áo, rót thêm một chén trà. Lần này y không đẩy sang cho ta, mà tự thân nâng lên chậm rãi nhấp nháp.