chê hắn ốm nhom ốm nhách, gạt phắt đi. Hắn quỳ mọp trước cổng doanh trại suốt một ngày ròng, quỳ tới mức ngất xỉu. Tỉnh lại, đập vào mắt là một vị thiếu niên tướng quân, tay bưng bát cháo nóng hổi.
Tướng quân nói: Uống cháo xong, đi theo ta.
Vị tướng quân đó chính là Chu Diễn.
Chu Diễn cho hắn bát cơm ăn, cho hắn tiền đồ vinh hiển, cho hắn cái cảm giác lần đầu tiên được sống như một con người. Nên Chu Diễn sai bảo gì, hắn nghe nấy. Không phải vì trung thành thề sống thề chết. Mà vì ngoài sự trung thành ra, hắn chẳng biết lấy thứ gì để báo đáp ân đức kia.
Ta còn nhìn thấy Thanh La.
Thấy năm lên tám nàng bị lũ mẹ mìn bắt cóc, qua tay ba kẻ buôn người, cuối cùng bị tổ phụ mua về. Tổ phụ hỏi nàng tên gì, nàng bẽn lẽn thưa: Nhị Nha. Tổ phụ bảo: Từ nay gọi ngươi là Thanh La. “Thanh La bất tri xứ, lục thảo mãn đinh châu.” Quả là câu thơ hay.
Đó là lần đầu tiên trong đời có người nâng niu bảo rằng, tên nàng là một câu thơ tuyệt mỹ.
Thế là nàng dốc cả sinh mạng để đối xử tốt với người khác. Đối tốt với tổ phụ, đối tốt với ta, đối tốt với Triệu Hổ. Nàng ngây ngô đinh ninh chỉ cần bản thân đủ tốt, sẽ không bao giờ bị vứt bỏ nữa.
Ta còn nhìn thấy chính mình.
Thấy kiếp trước bị cắt lưỡi, chặt tay, khoét mắt, độc chết. Thấy khoảnh khắc ngọn lửa thiêu rụi thân xác, ý niệm cuối cùng lưu lại trong ta chẳng phải oán hận ngút trời.
Mà là — nếu tổ phụ vẫn còn thì tốt biết mấy.
Rồi ta trọng sinh.
Chẳng phải ý trời xui khiến.
Là tổ phụ.
Lúc người trao lại thiên cơ, cũng là lúc người dồn chút thọ nguyên cạn kiệt cuối cùng sang cho ta. Chút thọ nguyên ít ỏi ấy chẳng đủ để người sống thêm một ngày, nhưng đủ để ta bắt đầu lại từ đầu.
Người nhường lại cơ hội trùng sinh ấy cho ta.
Khắc sâu hai chữ “ngậm miệng” vào tận xương tủy ta.
Nhưng người không bảo ta rằng, ngậm miệng không phải là đoạn kết.
Ngậm miệng, là để dành cho lúc cần thiết, cất lên lời vàng ngọc xoay chuyển càn khôn.
Tuyết ngày một nặng hạt.
Ta đứng trong gian trà thất của Đan Hà quan, siết chặt viên đan dược sắc đỏ trong tay, nước mắt lã chã rơi rớt.
Thẩm Tố tĩnh tọa đối diện, điềm nhiên chờ đợi.
Cánh hạc ngoài song chẳng rõ đã vỗ cánh bay đi từ thuở nào, chỉ còn trơ trọi cành mai già cong oằn dưới làn tuyết lạnh, tĩnh tại như ngọn bút gác trên nghiên mực.
“Ta nghĩ kỹ rồi.” Ta cất tiếng.
Thẩm Tố khẽ nhấc mí mắt.
Ta đặt lại viên đan lên bàn, đẩy về phía y.
“Viên đan này, ta không ăn.”
Thẩm Tố không tỏ vẻ kinh ngạc. Y chỉ chăm chăm nhìn ta.
“Vì sao?”
“Bởi ta đã thấu tỏ. Uy lực của viên đan này, chỉ xoay vần được nhân quả một lần. Hạn hán Tây Bắc và nghiệp chướng vương triều này, ngài chỉ có thể chọn một.” Ta lau vội giọt lệ vương trên má, “Ngài dốc năm trăm năm thanh xuân, toan luyện một viên linh đan vẹn cả đôi đường. Bất thành.”
“Đúng vậy.”
“Nhưng ngài đã lầm một chuyện.”
“Chuyện gì?”
Ta đứng lên, rảo bước tới bên cửa sổ. Tuyết vương trên suối tóc, lấm tấm trên bờ vai, lạnh buốt thấu xương.
“Hạn hán Tây Bắc không phải là nhân quả lẻ loi. Nó là một mảnh ghép của nghiệp chướng vương triều này.” Ta ngoảnh lại nhìn Thẩm Tố, “Kẻ thủ ác đồ thành, chính là hoàng thất. Mỗi trận hạn hán suốt ba trăm năm qua, thảy đều là hồn ma oán hận của thành trì đó đội mồ đòi nợ máu. Dẫu ngài có cắn răng dùng viên đan này hóa giải nhân quả Tây Bắc, chỉ cần hoàng thất còn tồn tại, vương triều còn nhởn nhơ, oan hồn ắt sẽ quay lại.”
“Thế nên?”
“Thế nên thứ ngài cần hóa giải, chưa bao giờ là nhân quả của một góc trời Tây Bắc.”
“Mà là của cả thiên hạ này.”
Thẩm Tố chìm trong câm lặng đằng đẵng.