Năm trăm năm trước, lúc Dư Quan lâm chung, đã phong ấn toàn bộ ký ức cùng chấp niệm đối với vùng Tây Bắc vào trong lò luyện đan. Lửa lò bùng cháy ròng rã bốn mươi chín ngày đêm. Khoảnh khắc cửa lò bật mở, bước ra từ đó là một thiếu niên.

Thiếu niên khoác đạo bào màu nguyệt bạch, vạt áo thêu cành hoa của quê hương Dư Quan.

Hoa đào.

Dư Quan vốn là người Tây Bắc.

Tây Bắc nào có hoa đào.

Y thêu hoa đào lên đạo bào, cốt là để ghi tạc vào lòng một nơi mà mình chưa từng đặt chân đến.

Ta còn nhìn thấy Hoàng đế.

Thấy thuở thanh xuân ngài cũng từng là một vị quân vương dốc sức lo toan trị quốc. Ngài ngự giá thân chinh, bình định Bắc Cương; ngài giảm sưu siêu thuế, khoan sức dân. Thuở ấy ngài nào có sợ chết. Ngài khảng khái nói với quần thần: Đời người ai chẳng phải chết? Chỉ cầu thẹn không thẹn với lòng.

Sau này ngài già đi.

Dấu hiệu của tuổi già, chẳng phải là tóc mai ngả bạc, chẳng phải là nếp nhăn nơi khóe mắt, mà là lần đầu tiên ngài bắt gặp khuôn mặt Tiên đế trong gương.

Tiên đế bị ngài bức tử.

Ngày ngài đăng cơ, Tiên đế tự vẫn bằng dải lụa trắng trong lãnh cung. Khi ngài chạy tới, Tiên đế vẫn trừng trừng hai mắt, nhìn đăm đăm vào ngài.

Ngài giơ tay vuốt mắt cho Tiên đế.

Kể từ đó, đôi mắt Tiên đế cứ ám ảnh mãi trong tấm gương của ngài.

Ngài uống kim đan, cầu trường sinh, chẳng phải vì sợ chết.

Mà là sợ chết rồi phải đối mặt với Tiên đế.

Ta còn nhìn thấy Hoàng hậu.

Thấy nàng mười bảy tuổi gả cho Hoàng đế khi ấy vẫn còn là hoàng tử. Đêm tân hôn, ngài hứa với nàng: Đời này kiếp này quyết không phụ Khanh. Nàng tin sái cổ. Nàng vì ngài lôi kéo ngoại thích, vì ngài quyên góp quân lương, vì ngài sinh con đẻ cái. Ngày ngài lên ngôi, nắm tay nàng bước lên Kim Loan điện, dõng dạc nói với bá quan văn võ: Đây là phát thê của trẫm, là bậc mẫu nghi thiên hạ.

Về sau ngài sủng hạnh phi tần khác, có thêm những đứa con khác. Ngài nói với nàng: Trẫm là Hoàng đế. Nàng cắn răng nín lặng, móng tay bấm chặt vào lòng bàn tay rướm máu.

Sau nữa, ngài bắt đầu luyện đan. Ánh mắt ngài nhìn nàng càng lúc càng xa lạ. Có bận ngài nửa đêm kinh hãi bừng tỉnh, bóp cổ nàng gào hỏi có phải nàng muốn mưu hại trẫm.

Nàng không thèm giãy giụa.

Nhìn hình bóng Tiên đế lởn vởn trong mắt ngài, nàng chợt bừng tỉnh.

Kẻ mà nàng tranh đấu cả đời, không phải Hoàng đế, mà là một hồn ma.

Ta còn nhìn thấy Chu Diễn.

Thấy năm lên bảy, hắn bị phụ hoàng gọi đến ngự thư phòng. Phụ hoàng trỏ tay vào tấm bản đồ treo trên vách, hỏi hắn: Diễn nhi, con nhìn thấy gì? Hắn đáp: Nhi thần nhìn thấy thiên hạ. Phụ hoàng cười ha hả, xoa đầu hắn khen: Tốt, con trai của trẫm, ắt phải có chí khí nhường này.

Đêm đó hồi tẩm cung, mẫu phi gặng hỏi: Bệ hạ nói gì với con? Hắn một tấc không đi thuật lại cặn kẽ. Mẫu phi trầm tư rất lâu, rồi ôm siết hắn vào lòng, dặn dò: Diễn nhi, từ nay về sau phụ hoàng có hỏi con nhìn thấy gì, con cứ bảo chẳng nhìn thấy gì cả.

Hắn để ngoài tai.

Hắn quá khát khao sự công nhận của phụ hoàng.

Từ dạo ấy, hắn đèn sách dốc sức hơn bất kỳ ai, cưỡi ngựa bắn cung chăm chỉ hơn bất kỳ ai, thiết triều sớm hơn bất kỳ ai. Lần nào phụ hoàng khảo nghiệm các hoàng tử, hắn đều đứng đầu rành rành.

Nhưng đất phong của hắn lại chật hẹp nhất, mẫu phi của hắn bị hắt hủi nhất, cái tên của hắn vĩnh viễn xếp sau Thái tử.

Sau đó hắn buông xuôi.

Không phải vì cam phận.

Mà vì hắn đã vạch ra một con đường mới.

Phụ hoàng sợ chết.

Kẻ sợ chết, ắt sẽ tín nhiệm kẻ có thể giữ được mạng sống cho hắn.

Thế là hắn tìm đến Thẩm Tố.

Ta còn nhìn thấy Triệu Hổ.

Thấy năm hắn mười hai tuổi, nạn đói hoành hành quê nhà, cha mẹ dúi cái bánh bao ngô cuối cùng vào tay hắn, sụt sùi bảo: Đi làm binh đi, làm binh mới no bụng. Hắn cuốc bộ ròng rã ba ngày ba đêm mới tới doanh trại, quan tuyển quân