rạch nát tấm lưới đó. Nhát dao đâm vào bà, cũng đâm vào tôi.

Tôi đi thăm bà, là vào tháng thứ ba sau khi bản án có hiệu lực. Tại phòng thăm gặp của trại giam, cách một lớp kính. Bà mặc áo tù, tóc đã cắt ngắn, cả người gầy đi trông thấy. Nhìn thấy tôi, bà sững người một chút, rồi mỉm cười.

“Đến rồi à.” Bà nói.

“Vâng.” Tôi ngồi xuống.

Chúng tôi cách lớp kính cầm ống nghe lên.

“Ở trong đó có tốt không?” Tôi hỏi.

“Có thể tệ đến mức nào được nữa.” Bà đáp, “Có cơm ăn, ngủ được, không phải lo nghĩ về những chuyện đó nữa.”

Bà nhìn tôi, “Cháu ốm đi rồi.”

“Dạo này cháu bận.” Tôi nói.

“Công việc vẫn suôn sẻ chứ?” Bà hỏi.

“Cũng tạm.” Tôi nói, “Dự án hơi nhiều.”

Bà gật đầu, lại im lặng một lát.

“Cháu có hận bà không?” Bà đột nhiên hỏi.

“Hận.” Tôi thẳng thắn nói.

Bà vậy mà lại cười, “Vậy thì tốt.”

“Nếu cháu không hận bà, bà ngược lại mới sợ.” Bà nói, “Điều đó chứng tỏ những việc cháu làm lần này, ngay cả bản thân cháu cũng không đồng tình.”

Chúng tôi cứ thế nói với nhau từng câu một, như đang kể chuyện nhà, lại như đang từ từ tháo gỡ một mối quan hệ.

“Bên mẹ ruột cháu, có tin tức gì không?” Bà hỏi.

“Tạm thời chưa có.” Tôi đáp, “Người của công ty kia rất kín miệng, bên cảnh sát kinh tế cũng chỉ tra ra được lịch sử xuất cảnh của bà ấy năm xưa, sau đó thì mất dấu.”

Bà im lặng vài giây, “Đời này của nó, chắc là chỉ muốn trốn tránh thôi.”

“Nhưng cháu sẽ tìm bà ấy.” Tôi nói.

Bà ngước mắt nhìn tôi, trong mắt có một tia phức tạp, “Cháu không trách nó sao?”

“Trách chứ.” Tôi đáp, “Nhưng cháu cũng muốn gặp bà ấy.”

“Gặp rồi thì sao?” Bà hỏi.

“Hỏi bà ấy xem, bao nhiêu năm qua sống có tốt không.” Tôi khựng lại, “Cũng hỏi bà ấy xem, khi đưa ra những lựa chọn năm xưa, có từng hối hận không.”

Bà nội khẽ thở dài một tiếng.

“Nếu cháu gặp được nó.” Bà nói, “Thay bà nói với nó một câu, xin lỗi.”

“Thế còn bà?” Tôi nhìn bà, “Bà có lời nào muốn nói với cháu không?”

Bà ngẩn người. Rất lâu sau, bà mới cất giọng trầm thấp.

“Xin lỗi cháu.” Bà nói.

Giọng bà rất nhẹ, nhưng giống như một hòn đá, rơi tóm xuống cái giếng sâu thăm thẳm luôn chìm trong lòng tôi. Khoảnh khắc ấy, tôi mới nhận ra, cái giếng đó đã không còn sâu đến thế nữa.

Khi buổi thăm gặp kết thúc, cảnh sát bên cạnh nhắc nhở đã hết giờ. Tôi bỏ ống nghe xuống, đứng lên. Bà nội cũng đứng lên, cách lớp kính nhìn tôi.

“Thanh Yến.” Bà bất chợt gọi tôi qua lớp kính, “Cháu phải sống cho thật tốt đấy.”

Tôi gật đầu.

“Bà cũng vậy nhé.” Tôi nói.

Bà mỉm cười một cái, quay người bị đưa đi. Bóng lưng bà lọt thỏm trong bộ áo tù, trông vô cùng nhỏ bé.

Mùa đông năm đó, tôi đi về phương Nam. Thành phố ấy, cách nơi đặt trụ sở công ty xuất nhập khẩu năm xưa không xa. Tôi xin nghỉ phép năm, đeo một chiếc ba lô, mang theo chút tài liệu ít ỏi mà Lâm Vi giúp tôi tìm được, đi tìm từng nhà một. Tôi không phải là cảnh sát, trong tay cũng không có nhiều quyền hạn, chỉ có thể dựa vào việc dò hỏi, dựa vào vận may. Có lúc ở các cửa hàng nhỏ trong khu phố cũ, có lúc ở các khu nhà trọ tập trung đông công nhân.

Tôi cầm bức ảnh thời trẻ của bà ấy, hỏi thăm mọi người, “Cô/chú có từng thấy người này không?”

Đa số mọi người đều lắc đầu. Thỉnh thoảng có vài người nói không rõ.

“Trông hơi giống cô lao công xưởng tôi.” Có một nữ công nhân nói, “Nhưng cô ấy về quê từ mấy năm trước rồi.”

Tôi men theo những manh mối mơ hồ đó mà tiến bước. Có con đường dẫn đến ngõ cụt, có khi là một tòa nhà cũ đã bị phá dỡ, có khi là bờ đê của một con sông. Chiều hôm đó, tôi đứng bên một con sông ở phương Nam, nhìn ánh hoàng hôn nhuộm vàng mặt nước. Tôi đột nhiên nhận ra, tôi chưa chắc đã thực sự tìm thấy bà ấy. Bà ấy có thể đã đổi tên, đổi thành phố, đổi cuộc đời. Có thể bà ấy đã không còn trên cõi đời này nữa.