Bà kể về chuyện đi làm thuê bên ngoài, về những người bán hàng rong và công nhân bà gặp hàng ngày, về việc trong ký túc xá bà nghe thấy con của người khác gọi “mẹ” qua điện thoại. Trong từng bức thư, bà hầu như không nói về sự vất vả của mình, chỉ nhắc đi nhắc lại một điều, “Con phải ngoan nhé, phải bình an nhé.”

Thời gian của bức thư cuối cùng, là mười hai năm trước.

“Thanh Yến.” Cuối bức thư đó, bà viết, “Nếu có một ngày con biết được sự thật, đừng trách bà nội con, bà đã lớn tuổi rồi, nhiều chuyện cũng là lực bất tòng tâm.”

“Nếu con hận, hãy hận một mình mẹ thôi.”

“Là mẹ không có bản lĩnh, là mẹ để con vừa sinh ra đã phải gánh vác nhiều thứ như vậy.”

Câu cuối cùng của bức thư, là một lời chúc phúc mà tôi quen thuộc đến mức không thể quen thuộc hơn.

“Cầu mong con sau này, có một gia đình của riêng mình, có người yêu thương con, không phải sống như mẹ.”

Khi tôi đọc xong bức thư này trong xe, trời đổ mưa.

Tôi vẫn luôn nghĩ, công lý là một con đường thẳng tắp, chỉ cần cứ bước tới, thì sẽ đến đích. Nhưng ngay lúc đó, tôi mới nhận ra trên con đường ấy đầy rẫy những ngã rẽ.

Một bên là những dòng sông bị ô nhiễm, những công nhân bị chết cháy trong nhà xưởng, những cái tên chưa bao giờ được nhắc tới.

Một bên là một bà lão, một người phụ nữ từng ngồi tù và lăn lộn nửa đời người trong kẽ hở của xã hội, cùng với hai người mà tôi đã gọi “bố mẹ” vô số lần suốt hai mươi tám năm qua.

Tôi có thể giả vờ như không biết gì cả, cài lại chiếc hộp gỗ, giấu nó vào trong tủ, để mọi chuyện tiếp tục chìm trong bóng tối. Tôi cũng có thể phơi bày mọi thứ ra ánh sáng, để không ai có chỗ nào ẩn nấp.

“Cậu chọn thế nào?” Lâm Vi hỏi ở đầu dây bên kia.

Tôi im lặng rất lâu. “Tớ không biết.” Tôi đáp.

Cô ấy cũng im lặng một lát. “Vậy thì đừng vội đưa ra quyết định.” Cô ấy nói, “Chúng ta có thể làm một việc trước.”

“Việc gì?” Tôi hỏi.

“Tổng hợp tất cả những gì trong tay lại thành một tập tài liệu hoàn chỉnh.” Lâm Vi nói, “Cậu càng biết rõ ràng, thì lúc cậu đưa ra lựa chọn, cậu sẽ càng không hối hận.”

Khoảng thời gian đó, tôi dường như đang sống lại cuộc đời của chính mình một lần nữa. Tôi cùng Lâm Vi phân loại tất cả các tài liệu: bản photo biên bản điều tra năm xưa, hồ sơ cũ của xưởng in nhuộm, các văn bản phê duyệt của Cục Bảo vệ Môi trường, thông tin đăng ký kinh doanh của Thương mại Thịnh Hưng, dữ liệu công khai của công ty xuất nhập khẩu phía Nam, và cả lịch sử xuất nhập cảnh của Lưu Tú Mẫn.

Chúng tôi chạy đến Cục Lưu trữ, Tòa án, Cục Thuế, thậm chí đến bờ con sông năm xưa. Con sông từng bị nhuộm đen và bốc mùi hôi thối vì nước xả thải, nay đã bị cải tạo cứng nhắc thành “sông cảnh quan”. Bờ sông có đường tản bộ, có cầu nhỏ, lũ trẻ đạp xe cân bằng bên cạnh, các cụ già tập thể dục buổi sáng. Không ai còn nhớ mùi hôi thối của nhà xưởng năm xưa, cũng không ai còn nhớ tiếng khóc than trong cái đêm hỏa hoạn ấy.

Tôi đứng bên bờ sông, nhìn khu đất xưởng cũ đã bị che lấp bởi dải cây xanh, trong lòng có một giọng nói cất lên hỏi tôi.

“Mày rốt cuộc muốn gì?” Sự thật tôi đã nắm trong tay. Rồi sao nữa? Tôi muốn báo thù, muốn bà nội và bác cả phải ngồi tù, hay muốn một tương lai gọi là “sạch sẽ”? Một sự “sạch sẽ” được xây dựng trên sự nhắm mắt làm ngơ trước những việc này.

Trở về từ bờ sông, tôi lại đến viện dưỡng lão. Đó là nơi tôi đưa bà nội vào. Bà đã từ chối việc tôi tiếp tục thuê hộ lý riêng, chê tiền đó tiêu không thoải mái, bảo viện dưỡng lão có điều dưỡng chung, không cần thiết phải cầu kỳ như vậy.

“Bà tiếc tiền à?” Bà nhìn tôi, “Hay là sợ phiền phức?”

“Bà không phải lúc nào cũng nói, nuôi con để dưỡng già sao?” Tôi vặn lại, “Bây giờ bà có năm cô cháu gái, hai người con trai, sao lại đến lượt một đứa bị gạt ra rìa như cháu phải thuê hộ lý?”