“Mấy đứa nhỏ không muốn gặp ông. Mang thịt heo về đi.”

“Tú Cầm, tôi biết sai rồi——”

“Ông không sai. Ông trước giờ vẫn là loại người như vậy.” Giọng mẹ tôi rất bình thản. “Là tôi trước đây nhìn nhầm. Bây giờ thì không nhìn nhầm nữa rồi. Ông đi đi.”

Ông ta đứng ở cửa, dầu từ miếng thịt heo nhỏ từng giọt xuống.

Tứ chị ôm em út, từ cửa sổ nhìn ông ta một cái. Em út không nhận ra ông ta, nghiêng đầu hỏi: “Chị ơi, người đó là ai vậy?”

Tứ chị bẻ mặt em út quay lại. “Không quen.”

Tay bố tôi khẽ run lên. Ông đặt miếng thịt heo xuống, rồi xoay người bỏ đi.

Đi rất xa rồi, chị Năm mới lẩm bẩm: “Miếng thịt heo đó chúng ta không lấy.”

chị Ba nghĩ ngợi một lát. “Không lấy thì không lấy, nhưng vứt đi thì tiếc quá. Mang sang nhà dì Vương bên cạnh đi, ông cụ nhà họ bệnh mấy ngày rồi.”

chị Hai rửa sạch miếng thịt heo rồi bưng sang nhà bên cạnh. Dì Vương nhận lấy, cứ tấm tắc mãi: “Mấy đứa con gái nhà Tú Cầm, đúng là những đứa trẻ ngoan.”

Tôi đứng trong sân, bỗng nhiên nhớ ra——

Bố tôi từng nói: “Nuôi các cô còn không bằng nuôi bảy con chó.”

Thế mà bảy “con chó” này, sống còn có tình người hơn ông ta nhiều.

Đầu xuân năm 1981, chị Ba gây ra chuyện đầu tiên.

Chị ra chợ huyện bán đồ thêu của tứ chị, miệng quá nhanh, lỡ đắc tội với một tên bán vải giả ở bên cạnh. Tên đó tìm hai thằng du côn đến đập sạp.

chị Ba một mình bảo vệ sạp hàng, bị đẩy ngã ba lần, đầu gối va đến bật máu.

Hôm ấy chị Năm vừa đúng lúc đang ở huyện thành giúp chị Cả đưa rau, nhìn thấy cảnh đó, lập tức “phắt” một cái nhảy xuống từ xe kéo.

chị Năm khi ấy mới mười một tuổi. Gầy đen nhưng rắn rỏi, chạy nhanh như một con nghé con.

Chị không ra tay——lý trí hơn chị Ba. Chị lao vào cửa hàng bách hóa quốc doanh bên cạnh tìm ông lão họ Trương trông trật tự, một cựu quân nhân, người nào ở chợ cũng sợ ông. chị Năm vừa đi ra cùng ông, hai tên du côn lập tức ngoan ngoãn hẳn.

Sau đó chị Ba ngồi trước sạp, đầu gối còn rỉ máu, miệng vẫn đang chửi.

chị Năm ngồi xổm xuống băng bó. “chị Ba, miệng chị không thể tích đức một chút à?”

“Em quản tôi!”

“Tôi không quản chị. Lần sau chị bị đánh chết thì tôi dọn sạp về nhà.”

“Chị dám!”

“Tôi dám. Sợ gì.”

Hai người trừng nhau ba giây, rồi cùng lúc bật cười.

chị Ba xoa xoa đầu chị Năm. “Được. Có em ở đây, đi đâu chị cũng không sợ.”

Đêm đó chị Ba về đến nhà im lặng rất lâu, rồi nói với tôi.

“Lục Nhi, chỉ bán đồ thủ công của lão tứ thôi thì không đủ. Chị muốn làm lớn hơn một chút.”

“Làm gì cơ?”

“Quần áo. Kiểu dáng ở phía nam thời thượng hơn bên mình, chị muốn nhập hàng về bán.”

Tôi nhìn chị. Mười bốn tuổi, làn da bị nắng làm sạm đi hai tông, đầu gối vẫn còn quấn băng gạc.

Kiếp trước chị Ba đi theo một người bán hàng rong rồi bỏ đi, đến phía nam làm ăn phát tài.

Kiếp này không cần đợi người bán hàng rong nữa.

“Chị, đi đi. Nhưng có một việc chị phải nhớ.”

“Gì cơ?”

“Mùa đông năm nay, bên đông huyện thành, nhà máy dệt sẽ thanh lý một lô vải lỗi, giá bị ép xuống còn ba phần mười. Em giữ tiền chờ lô hàng đó.”

Mắt chị Ba sáng lên. “Sao em biết?”

“Kiếp trước sau khi chị đi theo người bán hàng rong bỏ đi, có một năm về ăn Tết từng khoe chuyện này—nói rằng vốn liếng đầu tiên chính là kiếm được nhờ lô vải lỗi đó.”

chị Ba ngẩn ra một lúc, rồi bật cười. “Được. Kiếp trước của ta đã chỉ cho kiếp này của ta một con đường.”

chị Ba đợi được lô hàng đó.

Mùa đông năm 1981, nhà máy dệt huyện thật sự thanh lý tồn kho, quả nhiên tung ra một lô vải lỗi. Cái gọi là lỗi cũng chỉ là màu nhuộm đậm nhạt không đều, may thành quần áo thì căn bản không nhìn ra.

chị Ba mang số tiền tích cóp được hơn nửa năm đi tranh mua hai mươi cuộn.

Chị không vội bán vải, mà kéo về tìm tứ chị.

“Tứ Nhi, em có thể thêu chút hoa văn lên những tấm vải này không?”

Tứ chị lật xem vải, lại sờ thử độ mềm mại. “Thêu gì?”

“Tùy em. Đẹp là được.”

Tứ chị nghĩ suốt một ngày, rồi thêu một cành mai ở góc tấm vải. Hai màu đỏ trắng, mũi kim dày mịn, đường nét cánh hoa sống động như thật.

chị Ba mang tấm vải có thêu hoa ra chợ, báo giá cao hơn vải thường năm phần.

Có người thấy đắt. chị Ba liền trải tấm vải ra, để ánh mặt trời chiếu lên cành mai ấy.

“Thấy chưa? Thêu thủ công đấy. Trong cả huyện chỉ có một nhà này thôi. Ở chỗ khác mà tìm được thì coi như tôi thua.”

Bà chủ tiệm may bên cạnh đã vỗ tiền xuống. “Tấm này tôi lấy hết. Còn mẫu nào khác không?”

chị Ba cười đến cong cả mắt. “Có! Muốn mẫu gì cũng có!”

Về đến nhà, chị vỗ vai tứ chị: “Tứ Nhi, em phát tài rồi! Hai tay em còn khéo hơn tay tiên nữ nữa!”

Tứ chị cúi đầu, khóe môi khẽ cong lên.

Từ ngày đó, chị Ba chạy thị trường, tứ chị làm hoa văn. Hai chị em một sáng một tối, phối hợp ăn ý đến mức không chê vào đâu được.

Đến mùa xuân kiểm sổ sách—hai mươi cuộn vải vốn vào sáu mươi đồng, cộng cả tiền công thêu của tứ chị, bán được hai trăm mười đồng.

Lãi ròng một trăm năm mươi.

Con đường của chị Cả thì khác.

Gửi rau suốt hơn một năm, chị Cả đã quen mặt với mấy nhân viên thu mua ở các cửa hàng cung tiêu trong huyện thành. Chị nói không nhiều nhưng làm việc rất đáng tin, đã hẹn mấy giờ giao thì đúng mấy giờ, chất lượng rau cỏ thì chưa bao giờ pha tạp.