chị Hai cài một túi thuốc nhỏ lên eo chị. “Có thuốc cảm, thuốc cầm tiêu chảy, băng cá nhân, đều đã ghi nhãn cả rồi.”

chị Cả không nói gì, chỉ chỉnh lại cổ áo cho chị Năm.

Tứ chị đưa qua một con hổ bông chỉ to bằng lòng bàn tay. Chữ “Vương” trên đầu hổ được viền bằng chỉ vàng.

“Mang theo. Trừ tà.”

chị Năm nhận lấy, sống mũi đột nhiên cay xè. Vội ngẩng đầu lên, chớp mắt thật mạnh.

“Khóc cái gì, lại chẳng phải không về nữa.”

Không ai nói chị khóc. Là chính chị tự khai trước.

Em út vùng khỏi tay mẹ tôi, lảo đảo chạy tới ôm lấy chân chị Năm.

“chị Năm chị đi đâu thế?”

chị Năm ngồi xổm xuống, xoa đầu nó. “Chị đi nhập ngũ. Đợi chị về, chị dẫn em đi xem xe tăng.”

“Xe gì cơ?”

“Xe tăng. To lắm, còn lớn hơn cả con bò.”

“Còn lớn hơn cả bò á?!”

chị Năm cười ha hả, bế em út lên xoay một vòng.

Đặt nó xuống, chị vẫy vẫy tay về phía chúng tôi rồi quay người đi.

Đi được hơn mười bước, chị bỗng quay đầu lại, gọi to một tiếng.

“Lục Nhi——!”

“Gì thế?”

“Cảm ơn em.”

Gọi xong là chị chạy mất. Bím tóc phía sau cứ đung đưa qua lại.

Tôi biết chị đang cảm ơn vì điều gì.

Mùa thu năm ấy, nước sông lạnh lắm.

Bàn tay tôi túm chặt vạt áo chị, đến tận bây giờ nghĩ lại vẫn còn run.

Nhưng chị đã sống.

Đứng ở nơi này, bằng giọng nói thật to, chẳng sợ gì mà sống tiếp.

Mùa thu năm 1987, tôi có quầy cố định của riêng mình ở chợ nông sản huyện, chuyên buôn bán rau.

Từ ba mẫu đất bãi sông khởi đầu, đến giờ đã nhận cung hàng của năm hộ trồng rau. Tôi nhớ rõ năm nào huyện làm con đường mới, năm nào nhà ăn cơ quan mở rộng, năm nào mùa đông giá rau tăng gấp đôi.

Những ký ức này không phải kiểu bàn tay vàng vô não —— nó chỉ chỉ cho phương hướng, còn con đường vẫn phải từng bước mà đi.

Mùa thu năm ấy, có người giới thiệu đối tượng cho tôi.

Bán đậu phụ. Người ở trấn bên cạnh, họ Thẩm, tên Thẩm Hữu Căn. Là người thật thà, không hút thuốc không uống rượu, chỉ là ít nói.

“Ít nói thì tốt.” chị Ba nói qua điện thoại. “Đỡ giống bố chúng ta.”

Kiếp trước chuyện cưới xin của tôi căn bản chẳng ai hỏi ý kiến. Bố tôi nhận hai chai rượu của người ta là đã hứa gả tôi đi, đến khi lấy chồng rồi mới phát hiện người đó cũng cùng một kiểu với bố tôi —— lúc không uống rượu thì hèn nhát, uống vào thì phình to cái tôi.

Kiếp này tôi phải tự mình chọn.

Lần đầu gặp nhau là ở chợ. Anh ta giúp cô anh ta bán đậu phụ, đứng sau quầy cúi đầu cắt, chẳng hề rao một tiếng nào.

Tôi mua hai miếng đậu phụ, anh ta cho thêm một miếng.

“Không cần——”

“Tặng.”

Chỉ có hai chữ. Rồi anh ta cúi đầu tiếp tục cắt. Đầu tai đỏ bừng.

Lần gặp thứ hai là khi nan hoa chiếc xe cút kít chở rau của tôi bị gãy, nghiêng lệch bên đường. Anh ta đi ngang qua, chẳng nói gì cả, ngồi xổm xuống sửa.

Sửa suốt nửa tiếng. Đứng lên phủi bụi.

“Xong rồi.”

Lại vẫn chỉ hai chữ ấy.

Sau này chị Ba đến thăm tôi, cứ nhất quyết kéo Thẩm Hữu Căn uống mấy chén. Anh ấy uống nửa cân rượu thì mặt đỏ bừng, nói cũng nhiều hơn một chút.

Từ hai chữ thành bốn chữ.

“Anh… ngủ sớm đi.”

chị Ba cười đến mức gục cả xuống bàn. “Lục Nhi, chọn cậu ấy đi.”

Tôi nhìn anh ấy mặt đỏ hây hây ngồi trên ghế dài, hai tay ngay ngắn đặt trên đầu gối. Không làm vỡ bát, không chửi người, cũng không vung nắm đấm.

Anh ấy nhìn tôi, trong mắt mang theo ý cười.

Nụ cười ấy rất yên tĩnh, giống như than hồng trong bếp. Không hừng hực phát ra tiếng động, nhưng lúc nào cũng ấm áp.

Tôi đã lấy anh ấy.

Ngày cưới không đãi rượu, chỉ ăn một bữa cơm ở nhà. Các chị em cộng với mẹ tôi, cả một bàn lớn.

Thẩm Hữu Căn bị chị Ba và chị Năm chuốc liền ba chén, mặt đỏ như mông khỉ, nhưng hai tay vẫn đặt ngay ngắn trên đầu gối.

Em út ghé lại nhìn. “Anh rể Lục sao đỏ thế.”

“Do uống rượu.”

“Bình thường anh cũng vậy à?”

“Không.”

“Vậy bình thường anh thế nào?”

Thẩm Hữu Căn nghĩ ngợi một lát.