Đầu tháng Hai, Tết Tiểu Niên. Hiểu Tình nói sẽ ở lại Bắc Kinh đón Tết với tôi. Đây là năm đầu tiên trong năm năm qua con ở bên tôi. Trước đó năm nào con cũng bảo tăng ca. Giờ tôi mới biết, những năm đó con thực sự đã liều mạng—công ty từ con số không lên tám trăm triệu là nhờ con không ăn Tết, không nghỉ ngơi mà cày cuốc.
Đêm giao thừa, tôi gói sủi cảo. Nhân thịt lợn và cần tây, món Hiểu Tình thích nhất. Con đứng bên cạnh giúp cán vỏ, tay chân vụng về y hệt năm mười hai tuổi.
“Con dùng lực mạnh quá, vỏ mỏng thế này, luộc lên là rách hết.”
“Con quản hơn ba trăm người ở công ty mà cán cái vỏ sủi cảo không xong, nói ra mất mặt lắm.”
“Quản người với cán sủi cảo không giống nhau.”
“Đều là công việc khéo tay cả thôi.”
Hai mẹ con vừa xem Xuân Vãn vừa ăn hơn bảy mươi cái sủi cảo. Tôi ăn hai mươi, con ăn năm mươi.
“Sao con ăn khỏe thế?”
“Ở Thâm Quyến suốt ngày tiếp khách, ăn không ngon, về nhà mới được ăn thoải mái.”
Ăn xong, con nằm ườn ra sofa không muốn động đậy.
“Mẹ, sau này năm nào con cũng đón Tết với mẹ.”
“Đừng vì mẹ mà bỏ bê việc chính.”
“Mẹ chính là việc chính của con.”
Tôi giả vờ đi rửa bát để giấu đi sự xúc động. Mùng ba Tết, Lưu Đức Hậu gọi điện. Lần này tôi nghe. Qua năm mới, tâm trạng tốt, nghe thì nghe.
“Thu Lan, năm mới an khang.”
“Năm mới an khang.”
“Bà… đón Tết ở đâu?”
“Với con gái.”
“Ồ, Hiểu Tình về rồi à? Thế thì tốt quá.” Ông ta im lặng vài giây. “Thu Lan, tôi muốn gặp bà một lần.”
“Có chuyện gì nói trong điện thoại đi.”
“Nói điện thoại không rõ được. Có thể… bà chọn chỗ đi, tôi qua.”
Tôi suy nghĩ một chút: “Được. Mùng năm, trà lâu Thiên Niên, hai giờ chiều.”
Chiều mùng năm, tôi đến trà lâu. Lưu Đức Hậu đã ở đó. Ông ta tiều tụy hơn lần trước nhiều. Tóc bạc thêm, người gầy đi, nếp nhăn trên mặt như bị dao khắc vào. Trước mặt ông ta là hai ly trà: một trà xanh, một trà hoa. Trà hoa là loại tôi thường uống.
“Thu Lan, ngồi đi.”
Tôi ngồi đối diện: “Có chuyện gì?”
Hai tay ông ta xoa xoa ly trà, như đang chuẩn bị tâm lý.
“Thu Lan, những ngày qua tôi đã nghĩ rất nhiều.”
“Ừ.”
“Tôi biết tôi đã sai. Không nên không bàn với bà mà đã thế chấp nhà—”
“Chuyện đó qua rồi. Ông đưa tiền cho Hạo Vũ, nó sang đó học hành tử tế thì cũng đáng.”
“Không đáng.” Ông ta đột nhiên ngẩng lên nhìn tôi. “Tôi nói thật với bà. Hạo Vũ sang Sydney xong, căn bản không học hành gì cả. Khóa MBA đó nó bỏ học từ ba tháng trước rồi, tiền không đòi lại được. Giờ nó cùng mấy đứa bạn làm kinh doanh xách tay, thua lỗ hơn một trăm nghìn tệ rồi.”
Tay cầm ly trà của tôi khựng lại giữa không trung.
“Bỏ học?”
“Đúng. Bảy trăm nghìn. Đóng học phí ba trăm nghìn, học kỳ một chưa xong đã bỏ. Học phí chỉ đòi lại được năm mươi nghìn. Hai trăm nghìn còn lại nó đem đi làm xách tay, giờ lỗ sạch.”
Tôi đặt ly trà xuống: “Vậy là nó tiêu bảy trăm nghìn, học được ba tháng, rồi làm xách tay thua lỗ.”
“Phải.”
“Giờ ông còn nợ ngân hàng bao nhiêu?”
“Sáu mươi lăm nghìn. Mỗi tháng trả bốn nghìn một trăm.”
“Lương hưu năm nghìn hai.”
“Trừ nợ còn một nghìn một.”
“Định bán nhà à?”
“Bán không được. Môi giới nói thị trường dạo này kém, khu đó lại cũ, treo một tháng không ai hỏi.”
Tôi nhìn ông ta. Một ông già sáu mươi hai tuổi, tóc bạc trắng, bọng mắt xệ, môi nứt nẻ. Ông ta cúi đầu, giống hệt một đứa trẻ mắc lỗi.
“Thu Lan, tôi muốn hỏi bà… liệu có thể…”
“Có thể cái gì?”
“Có thể quay về không?”
Tôi đặt ly trà xuống: “Lưu Đức Hậu, ông bảo tôi quay về làm gì? Về trả nợ cùng ông? Về hầu hạ ông? Về nấu cơm giặt giũ cho ông? Về làm con osin miễn phí?”
“Không phải! Tôi thật lòng muốn cùng bà sống tốt—”
“Sống tốt? Chín năm trước ông cũng nói thế. Nhưng con trai ông vừa mở miệng, ông không một giây suy nghĩ đã vét sạch vốn liếng. Ông có hỏi tôi không?”