Bà nhìn vào gương, nhếch khóe môi, nở một nụ cười còn khó coi hơn cả khóc.
Từ ngày đó, bà lại muốn soi gương.
Mỗi lần tôi hay Chu Minh định bước vào phòng, bà đều vội vã đội ngay bộ tóc giả lên.
Mỗi khi có y tá vào kiểm tra, bà cũng theo phản xạ vuốt ve mái “tóc” của mình.
Bà muốn dùng cách này để giữ lại chút tôn nghiêm nhỏ nhoi cuối cùng cho mình.
Tôi hiểu, bộ tóc giả này đối với bà không phải để cho đẹp.
Mà là một chiếc áo giáp.
Một chiếc áo giáp giúp bà che chắn những ánh mắt thương hại, đồng tình của người khác, để bà trông “bớt giống một người bệnh” hơn.
Có bộ tóc giả này, tinh thần của bà dường như cũng tốt hơn một chút.
Bà bắt đầu muốn xuống giường, vịn vào tay tôi, chậm rãi đi vài bước trong phòng.
Nhân cơ hội đó, tôi xin phép bác sĩ đưa An An đến bệnh viện.
Tôi biết bệnh viện nhiều vi khuẩn, không tốt cho trẻ nhỏ.
Nhưng tôi càng biết rõ, An An chính là chỗ dựa tinh thần duy nhất chống đỡ cho mẹ tôi tiếp tục sống.
Chiều hôm đó, tôi đẩy xe nôi đưa An An vào phòng bệnh.
An An đã hơn tám tháng tuổi, mập mạp trắng trẻo, vừa thấy bà ngoại liền toe toét cái miệng chưa mọc mấy chiếc răng, bi bô cười đùa, tay vươn ra đòi bế.
Đôi mắt mẹ tôi, khoảnh khắc nhìn thấy An An, lập tức bừng sáng.
Ánh sáng ấy, từ ngày bà đổ bệnh, tôi chưa từng được thấy lại.
Bà cố gắng gượng ngồi dậy từ trên giường bệnh.
Tôi vội vàng đỡ lấy bà.
“Bảo bối ngoan của ngoại…”
Bà ôm An An vào lòng, hôn lấy hôn để.
Bà đội bộ tóc giả ấy, mặc bộ quần áo bệnh nhân sạch sẽ, nếu không có khuôn mặt hốc hác biến dạng và chiếc kim luồn trên tay, cảnh tượng này trông giống hệt như một buổi chiều bình yên ở vô số những gia đình bình thường khác.
Bà ôm An An, khẽ ngâm nga bài hát Chim én nhỏ mà tôi nghe từ thuở ấu thơ.
“Chim én nhỏ, mặc áo hoa, mùa xuân năm nào cũng bay đến đây…”
Giọng bà rất nhẹ, rất yếu, còn pha chút khàn đục do tác dụng phụ của hóa trị.
Nhưng An An lại nghe say sưa, ngoan ngoãn tựa vào lòng bà ngoại, đôi mắt to tròn chớp chớp không rời mắt khỏi bà.
Ánh hoàng hôn xuyên qua cửa sổ, hắt lên hai bà cháu, bức tranh đẹp đẽ tựa như một bức họa.
Nhưng trái tim tôi, lại như bị lăng trì, đau đớn tột cùng.
Cái đẹp đẽ này, ngắn ngủi quá.
Ngắn ngủi như thể ăn trộm được vậy.
Lần hóa trị thứ hai nhanh chóng bắt đầu.
Tác dụng phụ lần này dữ dội hơn lần trước rất nhiều.
Cơ thể bà gần như bị phá hủy hoàn toàn.
Phần lớn thời gian bà đều trong trạng thái hôn mê và nửa tỉnh nửa mê.
Lúc tỉnh táo cũng bị cơn đau và buồn nôn hành hạ đến không nói nên lời.
Có một lần, bà tỉnh dậy giữa đêm vì quá đau, ý thức hơi mơ hồ.
Bà nắm lấy tay tôi, ánh mắt rã rời nhìn tôi.
“Tĩnh Tĩnh…”
“Chẳng phải bác sĩ nói… là giai đoạn đầu sao…”
“Tại sao… lại khó chịu thế này…”
“Có phải mẹ… sắp chết rồi không…”
Lời nói dối được tôi thêu dệt cẩn thận, đứng trước hiện thực tàn khốc, cuối cùng cũng lộ ra sơ hở.
Tôi nắm chặt đôi bàn tay lạnh ngắt của bà, trái tim như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt, đau đến không thở nổi.
Tôi phải trả lời bà thế nào đây?
Nhìn đôi mắt trợn tròn vì nghi hoặc và sợ hãi của bà, tôi biết, tôi không thể nói sự thật.
Chỉ cần tôi thừa nhận, đồng nghĩa với việc tôi tự tay bóp chết tia hy vọng le lói cuối cùng trong lòng bà.
Tôi chỉ có thể tiếp tục nói dối.
Tôi nén nước mắt, nặn ra một nụ cười méo xệch.
“Mẹ, mẹ đừng suy nghĩ lung tung.”
“Bác sĩ nói rồi, đây đều là phản ứng hóa trị bình thường.”
“Phản ứng càng mạnh, chứng tỏ thuốc càng có tác dụng, tế bào ung thư chết càng nhiều.”
“Mẹ xem, dịch trong bụng mẹ chẳng phải đã được hút ra rồi sao? Bụng mẹ xẹp đi rồi kìa.”
“Đợi xong đợt điều trị này, mẹ sẽ khỏe lại thôi. Đến lúc đó, chúng ta về nhà, ngày nào con cũng nấu mì Dương Xuân cho mẹ ăn.”