Ta ngước nhìn Dụ Sơ Diễn, kể từ lúc bước vào phòng, huynh ấy cứ đứng chôn chân tại chỗ không hề nhúc nhích.
Chỉ đến khi đám đông hiếu kỳ nháo nhào định xông vào, huynh ấy mới khàn giọng hét lên:
“Tất cả, không ai được bước vào!”
Thậm chí đến cả Lâm Như Nhân, cũng bị chặn lại ngoài cửa.
Mặc cho ả nói gì, Dụ Sơ Diễn cũng không mở miệng hạ lệnh cho gia đinh thả ả vào trong.
Mãi cho đến khi Thúy Trúc khóc đến ngất lịm đi trên sàn nhà, Dụ Sơ Diễn mới từng bước từng bước tiến đến trước cửa phòng.
Huynh ấy gọi thị vệ tới, mời toàn bộ khách khứa rời khỏi phủ, lại đem toàn bộ gia đinh nha hoàn trong phủ đuổi sang một tòa trạch viện khác.
Phủ Thừa tướng vốn đang tấp nập ồn ào nay trở nên trống hoác, chỉ còn lại Dụ Sơ Diễn, Thúy Trúc và cái xác vô hồn của ta.
Ta nhìn Dụ Sơ Diễn bình thản bước đến trước thi thể, cúi xuống ôm thân xác mục nát của ta lên.
Thi thể thối rữa nồng nặc, nhưng huynh ấy hoàn toàn không mảy may bận tâm.
Dụ Sơ Diễn đặt thi thể ta vào hầm băng, rồi thay một bộ áo tang sờn cũ.
Đó là bộ áo tang mà nhiều năm trước, khi phụ mẫu qua đời huynh ấy đã mặc.
Và bây giờ, huynh ấy lại mặc bộ áo tang này để đưa tiễn ta.
11.
Người dân kinh thành đều kháo nhau rằng Dụ Sơ Diễn đã phát điên rồi.
Huynh ấy cấm tuyệt không cho bất cứ ai bước chân vào phủ Thừa tướng, tự mình vận áo tang, lững thững đi khắp hang cùng ngõ hẻm kinh thành để sắm sửa mọi thứ cần thiết cho tang lễ.
Thế nhưng tang lễ ấy, huynh ấy không cho phép một ai đến cúng tế.
Ngay cả người do Hoàng thượng phái tới, cũng bị Dụ Sơ Diễn đuổi đi.
Bên ngoài phủ Thừa tướng bàn tán xôn xao, nhưng bên trong lại chìm vào sự tĩnh lặng đáng sợ.
Mới nửa tháng trôi qua, lá khô rụng đầy khắp các khoảng sân trong phủ, duy chỉ có đoạn đường từ đại sảnh ra đến cổng lớn, mỗi ngày Dụ Sơ Diễn đều cặm cụi quét tước sạch sẽ.
Suốt nửa tháng đó, ta không hề thấy huynh ấy mở miệng nói lấy một lời.
Mỗi ngày huynh ấy chỉ uống nước lã, gặm một cái bánh bao nguội ngắt, ngoài quét lá ra thì chỉ ngồi lau chùi quan tài của ta.
Nhiều lúc Thúy Trúc muốn giúp một tay, nhưng luôn bị huynh ấy hất ra.
Ta nhìn Dụ Sơ Diễn ngày một tiều tụy, nét mặt tiều tụy vô hồn, thậm chí có vài lần vì phân tâm mà suýt chút nữa lộn cổ xuống hồ nước, may mà có Thúy Trúc ở bên cạnh, luôn kịp thời kéo huynh ấy lại trong khoảnh khắc nguy hiểm.
Cho đến một ngày nọ, Dụ Sơ Diễn đang quét sân bỗng nhiên ngã quỵ xuống đất.
Ta theo bản xạ cúi xuống muốn kéo huynh ấy lên, nhưng thân thể hư ảo chỉ xuyên qua không khí, Thúy Trúc vội vã chạy lại.
con bé bưng bát nước đường đỏ, cố sống cố chết đổ vào miệng huynh ấy. Đợi đến khi Dụ Sơ Diễn tỉnh lại, Thúy Trúc mắt đỏ hoe chất vấn:
“Đại nhân, ngài vẫn chưa định buông tha cho phu nhân sao?”
“Phu nhân lúc còn sống đã quá khổ sở rồi, ngài đến cả sự bình yên sau khi nhắm mắt cũng không chịu cho người.”
“Nhưng ngài có biết, sự thật của tai nạn năm đó rốt cuộc là gì không!”
Thúy Trúc không nhịn được mà gào lên, bật khóc nức nở trong sự sụp đổ:
“Chuyến đi miếu Viễn Sơn đó căn bản không phải là phu nhân muốn đi, mà là Vân tỷ tỷ muốn đi cầu phúc cho ngài!”
“Lâm gia làm ăn thua lỗ, muốn ép Vân tỷ tỷ gả làm vợ kế cho tên lão gia họ Vương có sở thích quái đản kia.”
“Vân tỷ tỷ ngày đêm mong ngóng ngài đỗ đạt trở về, nên mới đến miếu Viễn Sơn cầu phúc, phu nhân vì lo lắng cho an nguy của tỷ ấy nên mới đi theo!”
Tiếng hét đứt ruột gan đó như một mũi kim đâm thẳng vào tâm trí ta.
Chợt nhớ lại cái ngày âm u đó, trong lúc chạy trốn, chúng ta bất tri bất giác đã lạc mất Thúy Trúc.
Hai chân bủn rủn mất sức, mỗi nhịp thở hắt ra đau đớn như bị dao cứa, tim đập thình thịch như muốn nhảy nảy khỏi lồng ngực.