10
Trước ngày nhập học một hôm, tôi ghé qua nhà họ Trần.
Không phải tìm Trần Hướng Đông, mà tìm bí thư cũ Trần Đức Phúc.
Ông ta ngồi trong phòng khách hút thuốc lào. Thấy tôi, tay cầm điếu run khẽ.
“Mạch Tuệ… cháu đến làm gì?”
“Chú Trần, ngày mai cháu lên tỉnh học rồi, trước khi đi qua chào một tiếng.”
Tôi đứng ngoài cửa, không bước vào.
“Nhà ba tiến của cha cháu, sau khi cháu đi, cô cháu sẽ định kỳ về thăm. Chìa khóa cháu gửi thím Lý giữ. Nếu có ai vào nhà cháu —— bất kể là ai —— cháu sẽ báo công xã.”
Mặt Trần Đức Phúc đỏ bừng. Ông ta há miệng hai lần, cuối cùng chỉ rít mạnh một hơi thuốc.
“Biết rồi.”
Tôi quay đi.
“Mạch Tuệ.”
Ông ta gọi phía sau.
Tôi dừng lại nhưng không quay đầu.
“Xin lỗi.”
Ba chữ, rất khẽ.
Tôi không đáp, cũng không quay lại, cứ thế rời đi.
Ra đến đầu làng, tôi gặp Trần Hướng Đông.
Anh ta vác một bó củi từ trên núi xuống. Thấy tôi đeo túi đứng chờ máy kéo, anh ta dừng lại.
Chúng tôi đứng đối diện, cách nhau ba bước.
Gió mùa đông lạnh buốt. Mặt anh ta đỏ ửng, môi nứt nẻ.
“Em… đi rồi à?”
“Ừ.”
“Đỗ được rồi… tốt lắm.”
Im lặng một lúc.
“Mạch Tuệ.” Anh ta nói nhỏ. “Hôm đó… chuyện hôn thư… là ý của mẹ anh. Lúc anh biết thì đã muộn.”
Lúc anh biết thì đã muộn.
Kiếp trước anh ta cũng nói y hệt câu đó.
Mỗi lần Lưu Thúy Lan làm điều gì tổn thương tôi, anh ta đều nói như vậy.
Con tôi bị bế đi —— “Lúc anh biết thì đã muộn.”
Tôi bị đuổi khỏi phòng chính xuống ở nhà kho —— “Lúc anh biết thì đã muộn.”
Tôi bị ép ký đơn ly hôn trắng tay —— “Lúc anh biết thì đã muộn.”
Anh ta luôn muộn một bước.
Không phải thật sự muộn.
Mà là anh ta chọn muộn.
Muộn một bước, anh ta có thể giang tay nói “Anh cũng không làm được gì.”
Không cần đối đầu với mẹ, cũng không mang tiếng xấu.
Tất cả việc xấu, Lưu Thúy Lan làm thay anh ta.
Anh ta chỉ cần im lặng, rồi sau đó nói một câu “Lúc anh biết thì đã muộn.”
“Hướng Đông.” Tôi nói.
“Ừ?”
“Anh không phải biết muộn. Anh là không dám biết.”
Mặt anh ta tái đi.
Tiếng máy kéo từ xa vọng lại.
“Em đi đây. Sau này ai sống phần người nấy.”
Tôi leo lên xe, ngồi giữa đống bao phân bón, để gió mùa đông táp thẳng vào mặt.
Xe đi xa dần, tôi ngoái lại nhìn một lần.
Dưới cây hòe già ở đầu làng, anh ta vẫn đứng đó.
Bó củi trên vai trượt xuống, rơi vãi đầy đất. Anh ta không cúi xuống nhặt.
Một chấm đen nhỏ giữa nền trời xám trắng, như hạt bụi không bị gió thổi đi.
Tôi quay đầu lại, nhìn về phía trước.
Con đường rất dài.
Nhưng tôi biết cuối con đường có ánh sáng.
11
Những ngày ở trường y tỉnh là quãng thời gian vững vàng nhất của cả hai đời tôi cộng lại.
Tôi là sinh viên có nền tảng kém nhất lớp, không ai kém hơn.
Bạn bè học trung học sáu năm, tôi chỉ dựa vào một năm tự học.
Buổi thực hành giải phẫu đầu tiên, thầy nói đến “xương ức”, cả lớp đều biết ở đâu, chỉ mình tôi giơ tay hỏi “xương ức là xương nào”.
Có người cười.
Tôi không thấy xấu hổ.
Bốn mươi hai tuổi chết cóng ngoài tuyết mới là xấu hổ.
Hỏi một điều mình chưa biết thì không.
Tôi học như liều mạng.
Người khác đọc một lần, tôi đọc năm lần.
Người khác làm một bộ đề, tôi làm ba bộ.
Sau giờ tắt đèn, tôi bê ghế nhỏ ra hành lang, ngồi dưới ánh đèn cầu thang học bài —— cái đèn đó sáng gấp mười lần đèn dầu ở nhà, tôi thấy mình xa xỉ đến mức không quen.
Kỳ thi cuối kỳ, tôi đứng thứ bảy trong lớp.
Không phải hạng nhất.
Nhưng với một người một năm trước còn không đọc trọn chữ, thứ bảy đã là kỳ tích.
Học kỳ hai, tôi đứng thứ ba.
Học kỳ ba, hạng nhất.
Từ đó không xuống nữa.
Thầy gọi tôi lên hỏi:
“Tống Mạch Tuệ, em học bằng cách nào?”
Tôi nghĩ một lúc rồi nói:
“Người từng đói sẽ không buông tay khi nhìn thấy lương thực.”
Ba năm trường y trôi qua.
Tốt nghiệp, tôi được nhà trường giới thiệu vào bệnh viện huyện.
Năm 1980. Tôi hai mươi hai tuổi.
Từ cô gái tuyệt tự ở Tống Gia Trang, trở thành nhân viên chính thức của bệnh viện huyện.