Tôi cười. Không đáp.

Mạng đương nhiên phải giữ.

Chính vì kiếp trước mất mạng quá uất ức, nên kiếp này tôi mới phải sống cho ra sống từng ngày.

Hè qua. Thu đến.

Tin chính thức truyền về —— khôi phục thi đại học.

Cả nước sôi sục.

Trong làng cũng náo động.

Đám thanh niên trí thức ánh mắt lại sáng lên.

Ngày đăng ký, tôi gặp Trần Hướng Đông trước cổng công xã.

Anh ta thấy tôi, bước chân khựng lại.

Gần một năm rồi chúng tôi không nói chuyện.

“Em cũng… đến đăng ký?” Giọng anh ta khô khốc.

“Ừ.”

Anh ta nhìn chồng sách trong tay tôi đã sờn gần rã, biểu cảm phức tạp.

“Em… làm nổi không?”

Câu này giống hệt kiếp trước.

Khi đó anh ta nói: “Em còn không đọc hết chữ, lo nấu cơm giặt đồ là đủ rồi, học cái gì.”

“Tôi có làm nổi hay không, thi rồi mới biết.” Tôi nói.

9

Tháng 12 năm 1977.

Kỳ thi đại học.

Địa điểm thi đặt ở trường trung học huyện. Tôi ngồi xe kéo ba tiếng mới tới nơi.

Ngoài cổng trường người đông nghịt. Có thanh niên trí thức mười bảy mười tám tuổi, có người đã ba bốn mươi. Có người mặc áo vá chồng vá, có người còn địu con đi thi.

Bước vào phòng thi, ngồi xuống chiếc bàn cụt một chân phải chèn gạch, lúc mở đề ra, tay tôi run lên.

Không phải vì căng thẳng.

Mà vì tôi đã chờ ngày này suốt hai đời.

Kiếp trước tôi còn chẳng có tư cách bước vào phòng thi. Tôi ở nhà giặt giũ, nấu cơm, trông con. Trần Hướng Đông đi thi —— và trượt. Lưu Thúy Lan chửi suốt ba ngày ba đêm.

Môn toán tôi làm được khoảng bảy mươi phần trăm. Có mấy bài lớn tôi không chắc lắm, nhưng tất cả phương pháp thầy Trương dạy tôi đều dùng hết.

Ngữ văn là môn tôi tự tin nhất —— một năm nay tôi chép chữ ít nhất cũng hơn vạn lần. Đề văn là “Một năm tôi chiến đấu”. Tôi không viết lời lẽ hào hùng gì, chỉ kể câu chuyện một cô gái tuyệt tự học chữ dưới ánh đèn dầu.

Chính trị dựa vào học thuộc lòng.

Thi hai ngày.

Khi bước ra khỏi phòng thi, nắng đông chiếu lên mặt, chói đến cay mắt.

Tôi không biết mình có đỗ hay không.

Nhưng tôi đã bước ra được khỏi đó.

Thế là đủ.

Những ngày chờ kết quả là những ngày dày vò nhất.

Trong làng truyền đủ thứ tin —— ai đó làm tốt, ai đó nộp giấy trắng.

Không ai nhắc đến tôi.

Trong mắt mọi người, Tống Mạch Tuệ vẫn là con bé tuyệt tự không biết mấy chữ, đi thi cũng chỉ để cho có.

Đầu tháng hai, kết quả có.

Hôm đó tôi đang bổ củi trong sân.

Người đưa tin của công xã đạp xe từ đầu làng tới tận cửa nhà tôi, vừa đi vừa gọi:

“Tống Mạch Tuệ! Tống Mạch Tuệ có nhà không!”

Tôi đặt rìu xuống, tay đầy mùn cưa.

“Cô đỗ rồi!”

Anh ta mặt đỏ bừng, thở hổn hển.

“Trường y tế tỉnh lỵ! Cô là người duy nhất của công xã đỗ vào trường trên tỉnh!”

Tôi đứng giữa sân, rìu cắm xuống đất, sững lại ba giây.

Rồi tôi ngồi xổm xuống, vùi mặt vào đầu gối.

Không khóc.

Chỉ ngồi im như vậy.

Gió thổi qua tường sân, xa xa có tiếng gà gáy.

Tôi nhớ lại kiếp trước.

Mùa đông năm bốn mươi hai tuổi, tôi cũng ngồi xổm ở cổng sân này, cũng tư thế ấy.

Lần đó, tôi ngồi chờ chết.

Lần này, tôi ngồi đón một đời mới.

Cùng một cái sân. Cùng một tư thế.

Nhưng là hai số phận khác nhau.

Tin lan ra, cả làng chấn động.

“Tống Mạch Tuệ đỗ trường tỉnh? Không phải nó còn không đọc hết chữ sao?”

“Chắc nhầm rồi?”

Không nhầm.

Trên bảng đỏ dán ở công xã, ba chữ “Tống Mạch Tuệ” rõ ràng như in.

Trần Hướng Đông trượt. Thiếu hơn chục điểm.

Thím Lý là người đầu tiên bưng bát mì trứng nóng tới nhà tôi.

“Mạch Tuệ!”

Bà đứng ở cửa, tay cầm bát run run, mắt đỏ hoe.

“Con nên người rồi! Cha con trên trời đang nhìn đấy!”

Tôi nhận bát mì, hơi nóng bốc lên trước mặt.

“Thím, cảm ơn thím.”

Cảm ơn bát nước nóng trong ngày tuyết năm ấy.

Và cảm ơn thím đã giúp tôi để mắt tới Triệu Hồng Mai trong ngày cưới đó.