Ban ngày làm việc —— không làm thì không có cơm ăn.

Rau trong vườn, củi trên núi, hoa màu ở ruộng tự canh, thứ nào cũng không thể bỏ.

Ban đêm dựa vào đèn dầu để nhận chữ.

Tôi chép từng chữ mới trong sách văn xuống.

Mỗi chữ chép hai mươi lần.

Một đêm chép được bốn mươi chữ.

Một tháng trôi qua, số chữ tôi biết tăng từ ba trăm lên tám trăm.

Ngón tay nổi ba bọng nước, đều vì cầm bút chì quá lâu.

Tháng thứ hai, tôi bắt đầu gặm nhấm toán học.

Cộng trừ nhân chia còn tạm ổn.

Nhưng đến phân số là tắc.

Một phần hai cộng một phần ba bằng bao nhiêu?

Tôi ngồi xổm trên giường đất, cầm bút vẽ rồi xóa trên mép tờ báo cũ, xóa rồi lại vẽ, vẫn không ra.

Tôi bẻ bánh bao nhà mình thành hai nửa, rồi lại chia thành ba phần, đặt trên giường mà đếm.

Lấy một nửa trong hai nửa, lấy một phần trong ba phần, cộng lại là bao nhiêu?

Đếm tới đếm lui, cuối cùng bẻ bánh vụn ra, mảnh vụn rơi đầy giường.

Ngồi giữa đống vụn bánh, mắt tôi chợt cay xè.

Không phải vì làm không ra bài.

Mà vì tôi nhớ tới kiếp trước.

Kiếp trước tôi cũng từng ngồi trên chính cái giường đất này.

Khi đó tôi mang thai đứa thứ hai, bụng to vẫn nấu cơm, giặt đồ, cho gà ăn, quét sân.

Trần Hướng Đông và mẹ anh ta ngồi trong phòng ngoài nghe radio.

Tôi trong bếp bận đến mức không thẳng nổi lưng.

Tối nằm xuống, tôi hỏi anh ta:

“Hướng Đông, anh có thể dạy em nhận vài chữ không?”

Anh ta xoay người, quay lưng lại.

“Biết chữ có ích gì? Em lo cho tốt cái nhà này là được.”

Đó là lần cuối cùng trong đời tôi muốn học chữ.

Sau đó, tôi không nhắc lại nữa.

—— Nhưng bây giờ, tôi vẫn ngồi trên cái giường đất ấy, trước mặt không phải quần áo hay bát đũa của người khác, mà là sách của chính tôi.

Ánh đèn dầu chiếu lên những dòng chữ nguệch ngoạc bằng bút chì, như một đốm lửa nhỏ không chịu tắt.

Tôi dùng tay áo lau mắt, quét vụn bánh sang một bên, cầm lại bút chì.

Một phần hai cộng một phần ba.

Quy đồng. Mẫu số chung là sáu.

Ba phần sáu cộng hai phần sáu.

Bằng năm phần sáu.

—— Ra rồi.

Tôi nhìn chằm chằm đáp án rất lâu.

Rồi lật sang trang tiếp theo.

Sau khi sang xuân, tôi tìm được một con đường.

Trường trung học công xã có thầy Trương dạy toán.

Thầy từng là sinh viên khóa trước, sau bị điều về công xã dạy học. Kiến thức vững, tính tình quái gở, ai xin học thêm thầy cũng từ chối.

Tôi không có tiền mời thầy.

Nhưng tôi có hẹ.

Đầu xuân, tôi xới mảnh đất trống trong sân, trồng hai luống hẹ.

Mùa này, hẹ tươi còn quý hơn thịt.

Tôi cắt đầy một gùi hẹ, đeo đến trường, đứng chặn trước cửa phòng thầy.

“Thầy Trương, con không xin thầy dạy thêm. Con chỉ hỏi thầy ba bài. Gùi hẹ này coi như học phí.”

Thầy nhìn hẹ, rồi nhìn cuốn sách toán sờn mép trong tay tôi, rút tập bài tôi làm ra xem.

Lật hai trang.

“Nền tảng quá kém.”

“Con biết.”

“Trình độ này thi đại học, không khả năng.”

“Con biết. Nhưng con muốn thử.”

Thầy lật thêm hai trang, nhíu mày một lúc rồi giãn ra.

“Trang mười bảy, bài ba, cách giải của em đúng. Chỉ sai ở phép tính.”

Thầy nhìn tôi.

“Trước đây em thật sự chưa học?”

“Chưa. Tự đọc sách mà mò.”

Thầy im lặng rất lâu.

Rồi đặt gùi hẹ sang một bên, kéo ghế ngồi xuống.

“Ngồi đi. Bắt đầu từ phân số.”

Từ đó về sau, mỗi chiều chủ nhật, thầy dạy tôi hai tiếng.

Không chỉ toán.

Thầy còn giới thiệu tôi với cô Lý dạy văn và thầy Triệu dạy chính trị.

Ba thầy cô, ba gùi hẹ.

Một cuộc trao đổi công bằng nhất.

Nhưng con đường này không chỉ có hẹ và sách.

Một đêm tháng sáu, tôi ôn bài đến khuya, đèn dầu đột nhiên tắt —— hết dầu.

Tôi mò trong bóng tối tìm bình dầu, trống không.

Ngày mai mới là ngày họp chợ, hôm nay không mua được.

Tôi ngồi trong bóng đêm, nghe tiếng ếch và tiếng gió ngoài cửa.

Rồi tôi làm một việc rất ngốc.

Tôi ôm sách ra sân, dựa vào ánh trăng mà đọc.

Trăng tháng sáu khá sáng, nhưng chữ in nhỏ, tôi phải giơ sách sát mặt mới nhìn rõ.

Tay mỏi thì đổi tay.

Muỗi vo ve bên tai, cắn hai chân tôi đầy nốt.

Tôi cứ thế đọc hơn nửa đêm.

Sáng hôm sau, mắt tôi sưng đến không mở nổi.

Thím Lý đến mượn cái sàng, nhìn thấy tôi hoảng hốt.

“Mạch Tuệ! Con sao vậy? Ai bắt nạt con?”

“Không ai bắt nạt. Đọc sách đấy.”

“Đọc sách mà thành thế này?” Thím xót xa mắng, “Con bé này, không cần mạng nữa à?”