Tôi vẫn ngày ngày đi làm, tăng ca, về nhà. Thỉnh thoảng sang ăn cơm với bố mẹ, cuối tuần đi chợ mua đồ, tập nấu vài món cơm nhà mà trước đây tôi chưa bao giờ làm. Chỉ là lúc về nhà, căn phòng yên tĩnh đến mức quá đáng. Bức ảnh cưới từng treo trên tường đã bị tôi gỡ xuống, thay bằng một bức ảnh phong cảnh sông nước. Chiếc đèn ngủ màu hồng trên đầu giường bị vứt vào góc sâu nhất của tủ, thay vào đó là một chiếc đèn bàn kim loại đơn giản.
Mấy ngày đầu, trên đường về nhà tôi vẫn vô thức mua phần cơm cho hai người, về đến nhà mới phát hiện tủ lạnh đã nhét đầy ba hộp cơm hộp. Cái cảm giác trống rỗng ấy, còn khó chịu hơn cả cãi nhau.
Tôi cứ ngỡ mình sẽ vượt qua rất nhanh, kết quả là mất nhiều thời gian hơn tưởng tượng.
Cho đến một buổi tối, tôi đi dạo trên bờ kè sau giờ làm, thấy một người đàn ông trẻ đang đẩy xe nôi, người phụ nữ bên cạnh khoác tay anh ta, hai người vừa đi vừa cười. Tôi bỗng nhận ra, thứ tôi ngưỡng mộ không phải là đứa con của họ, cũng chẳng phải cái nắm tay của họ, mà là sự nhẹ nhõm, thư thái trên gương mặt họ. Không toan tính, không đòi hỏi, chỉ đơn giản là đồng hành cùng nhau.
Giây phút ấy, tôi mới thực sự ý thức được rằng, mình không sợ hôn nhân, mà là sợ phải đối mặt với một mối quan hệ toàn những toan tính nữa.
Về sau, tôi đem câu nói này kể cho một người nghe.
Người đó tên là Cố Tuyết, do cậu bạn đại học Vương Minh giới thiệu, nghe nói là Giám đốc sản phẩm mới chuyển tới công ty cậu ấy.
Lần đầu tiên gặp nhau là ở quán cà phê đối diện công ty. Cô ấy mặc một chiếc áo len xám, tóc buộc đuôi ngựa đơn giản, mắt rất sáng, nói chuyện nhanh nhảu, nhịp độ và tư duy đều rất dứt khoát.
“Vương Minh bảo anh là đại thần kỹ thuật bên các anh.” Cô mỉm cười chìa tay ra, “Sau này trong công việc mong anh chỉ giáo nhiều.”
“Đừng nghe cậu ta bốc phét.” Tôi bắt tay cô ấy, “Chỉ là một tên thợ code khổ sai thôi.”
Hôm đó bàn xong công việc, cô ấy bỗng buông một câu. “Có phải anh mới ly hôn không?”
Tôi sững người. “Sao cô nhìn ra?”
“Vết hằn của nhẫn cưới vẫn còn kìa.” Cô chỉ vào ngón áp út của tôi, “Với lại, lúc nói chuyện, anh luôn theo phản xạ cố gắng giải thích cho những quyết định của mình, giống như đang phải báo cáo với ai đó vậy.”
Tôi dở khóc dở cười. “Năng lực quan sát của cô cũng đỉnh quá rồi đấy.”
“Nghề Giám đốc sản phẩm mà, ăn bám vào cái này đấy.” Cô uống một ngụm cà phê, “Yên tâm, tôi không phải thợ săn đầu người, cũng chẳng phải bà mối.”
Về sau, vì dự án chung nên chúng tôi thường xuyên tăng ca, họp hành, tranh luận. Có những lúc cô ấy cố chấp muốn chết, vì màu của một cái nút bấm mà có thể đôi co với tôi nửa tiếng. Nhưng mỗi lần cãi xong, cô ấy đều mua cho tôi một ly trà sữa, tiện tay gửi một cái meme kèm dòng chữ “Thương nhau lắm cắn nhau đau”.
Có lần tăng ca muộn, dưới tầng chỉ còn lại hai chúng tôi. Cô ấy nhìn xấp hồ sơ tài liệu trên bàn tôi, tiện miệng hỏi.
“Đây là gì thế?”
“Nợ cũ.” Tôi đáp.
“Thế sao anh vẫn giữ?” Cô thắc mắc, “Chuyện qua rồi cơ mà?”
Tôi im lặng một lát. “Có lẽ là sợ bản thân quên mất.”
“Quên cái gì?”
“Quên mình lúc trước từng ngu ngốc đến mức nào.”
Cô ấy nghĩ một chút, bỗng nhiên bật cười. “Thế cũng tốt.”
“Tốt ở đâu?”
“Chứng tỏ anh vẫn dám tin người.” Cô ấy nói, “Đáng sợ nhất là tự nhốt mình lại, không bao giờ dám bước thêm một bước nào nữa.”
Tối hôm đó về nhà, lần đầu tiên tôi lấy xấp chứng cứ dày cộm đó ra, lật xem từng tờ một. Sổ đỏ của Trương Quế Chi, thông báo học bổng của Trương Lỗi, lịch sử chuyển khoản, ảnh chụp màn hình Wechat, phán quyết của tòa án…
Nhìn mãi, nhìn mãi, tôi bỗng cảm thấy những thứ này dường như chỉ là một kịch bản phim đã hết hạn sử dụng.