Chớp cơ hội Hầu gia giao sáo ngọc cho hạ nhân bảo dưỡng thoa dầu, ta bôi độc cao vào lớp thành trong của ống sáo, chỉ một lớp mỏng dính, không nhìn sát vào thì đừng hòng phát hiện ra.

Mỗi lần Hầu gia cất công thổi sáo, hơi nóng từ vòm miệng phả vào ống sáo, độc cao gặp nhiệt bốc hơi, nương theo nhịp thở lọt vào phổi.

Độc tính của tiêu hồn thảo vô cùng đặc thù, nó không đoạt mạng, ít nhất là trong thời gian ngắn không làm chết người.

Nhưng nó sẽ từ từ gặm nhấm chức năng tim phổi của con người, khiến người ta dần dà suy yếu trong vô thức.

Điều vi diệu nhất là, nó chuyển hóa cực nhanh trong cơ thể người, sau khi chết chừng vài canh giờ là hoàn toàn phân giải, ngỗ tác nghiệm thi không thể nào tra ra được gì.

Sức khỏe của Hầu gia bắt đầu sa sút kể từ sau khi Chu Húc qua đời.

Ban đầu chỉ thi thoảng ho khan vài tiếng, ông ta chẳng để tâm, chỉ nghĩ là do tiết trời thu hanh khô.

Về sau những cơn ho càng thêm dồn dập, đặc biệt là sau khi thổi sáo xong, cứ phải ho sù sụ một hồi lâu mới dịu lại được.

Thêm một thời gian sau, ông ta bắt đầu thấy tức ngực khó thở, bước vài bước đã thở dốc, leo lên cầu thang cũng phải nghỉ chân hai bận.

Đại phu đã đến khám qua, nói là “phế khí suy nhược”, bốc cho mấy thang thuốc ôn bổ, nhưng uống vào cũng chẳng thấm tháp vào đâu.

Hầu gia bỏ ngoài tai mọi lời khuyên can, vẫn thói cũ ngày ngày thổi sáo.

Chắc hẳn ông ta cho rằng, trên cõi đời này thứ có thể làm mình vui thú chẳng còn lại bao nhiêu, sáo được coi là một thứ trong số đó, không đành lòng vứt bỏ.

18

Ngày mùng chín tháng mười, Hầu gia mời pháp sư đến phủ lập đàn làm pháp sự.

Căn nguyên là do cái chết bạo phát liên tiếp của Đại tẩu và Thế tử, lời đồn đại râm ran khắp phủ, kẻ thì đồn thổi phong thủy Hầu phủ hỏng bét, người thì truyền miệng oan hồn về đòi mạng.

Vốn dĩ Hầu gia chẳng bao giờ tin mấy chuyện này, nhưng lại không cản nổi những lời khuyên giải hết nước hết cái của Hầu phu nhân, cộng thêm bản thân ông ta sức khỏe cũng ngày một lao dốc, trong bụng cũng đâm ra lo sợ vu vơ, bèn cất công rước đạo trưởng ở đạo quán Bạch Vân ngoài thành vào phủ lập đàn trừ tà.

Pháp sự kéo dài ròng rã ba ngày trời, nhang đèn vàng mã la liệt khắp sân, đám đạo sĩ gõ chiêng gõ trống niệm chú liên hồi, quang cảnh huyên náo chẳng khác nào hát tuồng.

Hầu gia ngày ngày cứ đến xẩm tối sau khi pháp sự vãn, theo thường lệ phải về rừng trúc tấu lên một khúc.

Tối muộn hôm đó, ta nấp phía sau hòn non bộ bên rìa rừng trúc, nghe thấy tiếng sáo vẳng ra từ hướng thư phòng.

Khúc tấu vẫn là “Hàn giang thùy điếu”, nhưng tiếng sáo đêm nay lại khác hẳn mọi ngày, ngắt quãng đứt đoạn, tựa như hơi thở người thổi đã cạn kiệt.

Giai điệu réo rắt chợt im bặt giữa cao trào.

Tiếng sáo dứt hẳn.

Không gian rừng trúc chìm vào tịch mịch chốc lát, tiếp đó ta nghe thấy một tiếng động trầm đục, như thể một vật nặng nề đổ ập xuống nền đất.

Ta ẩn mình sau hòn non bộ thêm một tuần nhang, rồi mới từ từ ló mặt ra, rảo bước dọc theo con đường rải sỏi hướng thẳng về phía thư phòng.

Ánh đèn trong thư phòng vẫn hắt ra, cánh cửa để he hé, gió thu lùa qua khiến cánh cửa cứ chốc chốc lại va vào nhau, phát ra những tiếng cọt kẹt cọt kẹt.

Ta đưa tay đẩy cửa bước vào.

Hầu gia đã nằm sóng soài ngay cạnh chiếc ghế đá, sáo ngọc tuột khỏi tay, lăn lóc dưới gầm bàn.

Khuôn mặt ông ta tím ngắt, đôi mắt mở trừng trừng một nửa, miệng há hốc, trông bộ dạng hệt như đang cố sức hớp lấy không khí nhưng làm cách nào cũng chẳng thu được dưỡng khí vào lồng ngực.

Lồng ngực đã ngừng hẳn nhịp phập phồng.

Ta chầm chậm ngồi xổm xuống, thò tay thăm dò luồng hơi thở dưới mũi ông ta.

Chẳng còn chút hơi thở nào nữa.