Một nữ nhân vừa mới chịu tang phu quân, khóc thương bi ai đến đứt gan đứt ruột, ai lại đi nghi ngờ nàng ta cơ chứ?
Ta thong thả bước đến trước hộp trang điểm, mở ngăn ngầm dưới cùng ra.
Bình sứ nhỏ vẫn nằm yên ở đó, bên trong vẫn còn sót lại một chút thực thần phấn.
Chiếc khăn lụa tố cẩm được xếp vuông vắn, chèn dưới đáy cùng của ngăn ngầm.
Bức thư của đích tỷ đã được ta sao chép lại một bản, bản gốc vẫn giấu trên xà ngang của Thính Trúc hiên, cất cùng với xấp thư cũ kia.
Ta nhấc bình sứ nhỏ lên, vân vê trong lòng bàn tay, rồi lại đặt về chỗ cũ.
Mọi chuyện vẫn chưa xong đâu.
Hầu gia vẫn còn sống nhăn răng, Hầu phu nhân vẫn còn thoi thóp thở, con mụ quản sự nhúng tay vào việc mưu hại đích tỷ cũng vẫn sống sờ sờ.
Hầu gia đã mất đi tiểu tình nhân và đứa con trai nhỏ, giờ thì đến lượt ông ta rồi.
17
Tang sự của Chu Húc được tổ chức qua loa hơn cả tang lễ của Đại tẩu.
Thế tử bạo tử, truyền ra ngoài nghe chẳng lọt tai, Hầu phủ đành phải phát tang là “nhiễm trọng bệnh không chữa khỏi”, quàn linh cữu bảy ngày rồi vội vã đem chôn cất.
Tân khách đến viếng chẳng được bao nhiêu, bên nhà mẹ đẻ của ta cũng chỉ phái một tên quản sự đến, chủ mẫu ngay cả mặt mũi cũng chẳng buồn ló dạng.
Ta khoác áo tơ gai quỳ trong linh đường, khóc lóc bi thương vô cùng thành tâm.
Chẳng phải vì xót xa, mà là vì cuối cùng ta cũng tiến gần thêm một bước đến đích ngắm.
Vào đêm thứ ba sau ngày Chu Húc mất, khi đang túc trực bên linh đường, ta chợt nghe thấy một tiếng sáo thoảng qua.
Tiếng sáo vẳng tới từ tận sâu trong rừng trúc, u uất nức nở, hệt như tiếng nỉ non của một người đang sầu muộn.
Ta lắng tai nghe một hồi, nhận ra được giai điệu của khúc nhạc.
Là một khúc nhạc rất cổ xưa, mang tên “Hàn giang thùy điếu”, kể về một ngư phủ một mình buông cần câu trên mặt sông giá buốt, thứ lão câu không phải là cá, mà là nỗi cô quạnh.
Hầu gia đang thổi sáo.
Nhi tử mất rồi, ông ta vẫn còn tâm trí mà thổi sáo được ư.
Ta quỳ trên bồ đoàn, khóe môi khẽ nhếch lên.
Sau khi tang sự của Chu Húc kết thúc, không khí trong Hầu phủ càng trở nên quỷ dị khó lường.
Hầu gia đóng chặt cửa tự nhốt mình trong thư phòng sâu tít trong rừng trúc, dường như cắt đứt qua lại với bất kỳ ai.
Hầu phu nhân thì hoàn toàn khóa kín mình trong Phật đường, ngay cả việc thỉnh an hàng ngày cũng miễn đi, nói là đang vì Thế tử mà cầu phúc.
Hạ nhân trong phủ lén lút xì xào to nhỏ, truyền tai nhau rằng phong thủy Hầu phủ đã hỏng bét, chưa đầy một năm đã có ba vị chủ nhân lìa đời, e là đã xúi quẩy trúng phải tà ma nào đó.
Có mấy con nha hoàn nhát gan đã rục rịch nhờ cậy quan hệ để xin đi nơi khác, đám bà tử cũng hoang mang lo sợ, làm việc chẳng còn chút quy củ nào.
Đó chính là kết quả mà ta hằng mong muốn.
Lòng người ly tán, sự tình sẽ dễ bề hành động hơn.
Hầu gia say mê âm luật, đặc biệt thạo thổi sáo.
Cây sáo ngọc kia ông ta đã mang theo bên mình suốt hai mươi năm, nghe đâu còn là báu vật do một vị cao nhân trao tặng thuở niên thiếu, âm sắc trong trẻo cao vút, thiên hạ vô song.
Hầu gia thường nói, lúc phiền muộn thổi một khúc nhạc, moi u sầu đều tan biến hết.
Ta mất nửa tháng trời để nắm thóp quy luật sinh hoạt của Hầu gia.
Mỗi ngày ông ta dậy từ giờ Mão, xử lý công việc trong thư phòng đến giờ Ngọ, sau bữa trưa ngả lưng chợp mắt chừng nửa canh giờ, tiếp đó đi dạo trong rừng trúc, đến nhá nhem tối quay lại thư phòng, chốt cửa cài then, thổi sáo suốt một canh giờ đồng hồ.
Sấm đánh không đổi, ngày nào cũng răm rắp như thế.
Độc cao được bào chế xong vào ngày thứ mười sau khi Chu Húc hạ táng.
Nguyên liệu dùng là một loài độc vật mang tên “Tiêu hồn thảo”, không màu không mùi, gặp nhiệt sẽ bốc hơi thành những hạt bụi mịn mà mắt thường không tài nào nhìn thấy được.