Những điều ông vừa nói, vốn đã nằm trong dự liệu của ta từ trước; đó là kết cục ta đích thân trải đường cho hắn, từng bước một, không sai lệch.
Vì thế, ta không có nửa phần thương hại.
Cũng không có nửa phần khoái ý.
Tiêu Quyết giờ đây, với ta, chỉ là một người xa lạ đã từng quen biết. Vinh nhục, sống chết của hắn, đều không còn đủ sức chạm tới tâm can ta nữa.
“Ta biết rồi.” Ta nhàn nhạt lên tiếng. “Từ nay về sau, chuyện kinh thành không cần bẩm báo với ta nữa.”
Chung thúc như muốn nói thêm điều gì, nhưng cuối cùng vẫn chỉ khẽ gật đầu: “Vâng, chủ gia.”
Ông lui ra ngoài.
Trong phòng lại trở về tĩnh lặng, chỉ còn tiếng mưa lất phất ngoài hiên, rơi đều trên mái ngói.
Ta nâng chén trà lên, khẽ nhấp một ngụm. Nước đã nguội từ lâu, lạnh đến tận cổ họng, giống hệt trái tim ta — thứ đã sớm nguội tắt sau bao năm bão tố.
Ta từng nghĩ, giữa ta và hắn, mọi bụi trần của quá khứ đến đây đã hoàn toàn lắng xuống.
Từ nay, không còn dây dưa.
Không còn quay đầu.
20
Xuân Giang Nam luôn đến sớm hơn nơi khác. Chỉ cần mưa xuân vừa dứt, sắc xanh đã như bừng tỉnh, tràn khắp vườn tược, không sao kìm nổi.
Liễu rủ đâm chồi non mướt.
Đào nở rực cả cành.
Thanh Nguyệt Cư trong ánh xuân ấy đẹp như một bức họa thủy mặc, vừa dịu dàng vừa trong trẻo.
Ta bắt đầu bước ra khỏi gian phòng vốn đã quen thuộc, thong thả tản bộ trong vườn, hoặc đôi khi chống một chiếc thuyền nhỏ, một mình xuôi theo mặt hồ phẳng lặng giữa trang viên. Cuộc sống an nhàn đến mức khiến người ta sinh ra ảo giác, như thể hai kiếp khổ đau và tranh đấu kia chỉ là một giấc mộng xa xôi, chưa từng thực sự tồn tại.
Hôm ấy, Xuân Hòa theo ta dạo bên hồ. Nàng bỗng dừng bước, chỉ sang bờ đối diện.
“Tiểu thư, người nhìn kìa,” nàng khẽ nói, “bên kia từ khi nào lại có thêm một quầy vẽ?”
Ta theo hướng tay nàng nhìn sang.
Quả nhiên, dưới gốc liễu rủ bên bờ hồ đối diện, không biết từ lúc nào đã xuất hiện một chiếc sạp nhỏ. Sau sạp là một nam nhân mặc áo vải thô giản dị, cúi đầu lặng lẽ vẽ tranh, dáng vẻ bình thản như thể chưa từng bị thế gian làm phiền.
Ta khẽ nheo mắt.
Trong khoảnh khắc ấy, gió xuân chợt thổi mạnh hơn một chút.
Mặt hồ khẽ dậy sóng.
Thân hình hắn có phần gầy gò, dáng lưng nhìn từ xa mang theo chút tiêu điều, giống hệt một thư sinh thất chí phải lưu lạc phương Nam kiếm sống bằng vài bức họa ven hồ.
Ta không để tâm.
Giang Nam vốn nhiều tài tử, những người dựa vào bút mực để mưu sinh như thế này ở đâu cũng có.
Một kẻ bán tranh ven bờ nước, với ta mà nói, chỉ là một bóng hình quá đỗi bình thường giữa muôn vàn người qua lại.
Thế nhưng những ngày sau đó, quầy vẽ ấy vẫn luôn ở đó.
Người họa sư kia cũng vẫn ngồi nguyên chỗ cũ.
Có lẽ việc buôn bán không được khá lắm, bởi rất ít người dừng chân trước sạp của hắn. Hắn cũng chẳng rao bán, không chào mời, chỉ lặng lẽ ngồi đó ngày này qua ngày khác, cúi đầu vẽ.
Vẽ hồ nước. Vẽ hàng liễu. Vẽ mây trời lững lờ trên đỉnh đầu.
Sự trầm mặc ấy khiến Xuân Hòa sinh lòng thương hại. Nàng khẽ nói với ta: “Tiểu thư, vị họa sư kia trông thật đáng thương, cả ngày chẳng bán được nổi một bức tranh. Hay chúng ta qua mua giúp hắn một bức?”
Ta lắc đầu.
“Không cần.”
Chính ta cũng không rõ vì sao, nhưng trong lòng luôn có một cảm giác bất an mơ hồ, như có điều gì đó không đúng.
Hắn ở rất xa, ta không nhìn rõ mặt, vậy mà mỗi lần ánh mắt lướt qua bóng lưng gầy gò ấy, trong tim lại dấy lên một cảm giác quen thuộc khó gọi thành tên.
Cảm giác ấy giống như một mũi kim nhỏ, không đủ đ /au để khiến người ta bật khóc, nhưng lại đủ sâu để không thể làm ngơ.
Từ đó, ta bắt đầu tránh khu hồ, không còn tản bộ về hướng ấy nữa.
Thế rồi chỉ vài ngày sau, quầy vẽ biến mất. Người họa sư cũng không còn thấy bóng.
Tựa như hắn chưa từng xuất hiện ở nơi này.
Xuân Hòa lấy làm lạ, khẽ thắc mắc: “Sao vị họa sư kia đi nhanh thế?”
Còn ta thì thầm thở phào trong lòng.
Có lẽ là ta nghĩ nhiều rồi. Hắn chỉ là một trong vô số khách qua đường của Giang Nam, vô tình lướt ngang cuộc đời ta, rồi lại lặng lẽ rời đi, không để lại dấu vết.
Chỉ vậy thôi.
Cuộc sống lại trở về nhịp điệu yên bình vốn có.
Cho đến nửa tháng sau, Chung thúc lại đến.
Lần này, sắc mặt ông vô cùng nghiêm trọng.
Ông nói với ta một chuyện khiến cả căn phòng như chợt lạnh đi —Tiêu Quyết đã biến mất khỏi kinh thành.
Sống không thấy người. Ch/ết không thấy x/ác.
Giống như bốc hơi khỏi nhân gian vậy.
Bàn tay ta siết chặt lấy chén trà đến mức khớp ngón trắng bệch, nước trà nóng sánh tràn ra ngoài, hắt lên mu bàn tay, bỏng rát.
Thế nhưng ta lại không cảm thấy đ /au, bởi trong đầu đã hoàn toàn bị một ý nghĩ khác chiếm cứ.
Bóng lưng bên hồ hôm ấy bất chợt hiện lên rõ ràng trước mắt ta — thân hình gầy gò, dáng đứng cô tịch, như mang theo cả một nỗi tiêu điều khó nói.
Không thể nào. Nhất định không thể.
Hắn ở kinh thành còn có vương phi, có con trai, có tất cả những thứ hắn chưa từng buông bỏ. Hắn sao có thể đến Giang Nam? Lại càng không thể nào trở thành một kẻ bán tranh nghèo túng ven hồ.
Ta tự nhủ hết lần này đến lần khác, cố ép bản thân tin rằng tất cả chỉ là trùng hợp.
Thế nhưng cảm giác bất an kia lại như dây leo âm thầm sinh trưởng, từng chút một quấn chặt lấy tim ta, siết đến mức khiến ta gần như không thở nổi.
Từ hôm đó, ta bắt đầu mất ngủ.
Đêm này qua đêm khác, ta nằm trằn trọc, chỉ cần nhắm mắt lại là bóng lưng họa sư và gương mặt của Tiêu Quyết chồng lên nhau trong đầu, lúc rõ lúc mờ, luân phiên xuất hiện, giày vò ta đến kiệt sức.
Xuân Hòa thấy ta ngày một tiều tụy thì vô cùng lo lắng, vội mời đại phu giỏi nhất Giang Nam đến bắt mạch. Đại phu chỉ bảo ta lo nghĩ quá độ, tâm hỏa uất kết, kê cho mấy thang thuốc an thần. Thuốc uống vào lại chẳng có chút tác dụng nào.
Ta biết rõ, bệnh của ta không ở thân thể, mà ở trong lòng.
Người họa sư ấy giống như một mũi gai đã đ /âm vào tim ta, nếu không tự tay nhổ nó ra, ta vĩnh viễn không thể yên ổn.
Cuối cùng, vào một buổi sớm, ta không nói với bất kỳ ai, một mình lặng lẽ rời khỏi Thanh Nguyệt Cư, đi thẳng đến bờ hồ nơi từng đặt quầy vẽ.
Dưới tán liễu rủ chỉ còn khoảng đất trống, không có sạp tranh, cũng chẳng có bóng người; chỉ có tiếng gió lùa qua cành liễu xào xạc, lạnh lẽo mà trống trải.
Ta men theo bờ nước, bước đi vô định. Trong lòng vừa trống rỗng, vừa dấy lên một cảm giác mâu thuẫn khó gọi tên — có chút mất mát, lại có chút nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng.
Có lẽ thật sự chỉ là ta nghĩ nhiều. Hắn… sao có thể đến đây được chứ?
Giữa ta và hắn… vốn dĩ đã thanh toán sòng phẳng từ lâu.
Ngay khi ta định quay người trở về, phía xa bỗng vang lên một tràng huyên náo, tiếng người hoảng hốt lẫn vào tiếng kêu thất thanh, dường như có ai đó rơi xuống nước.