Viện tử một gian. Phía đông một miệng giếng, cạnh giếng một tảng đá xanh. Mái hiên chính phòng quay về hướng nam, ánh mặt trời chênh chếch hắt vào, rọi lên thềm bậc dưới hiên.

Trong viện không có đồng hồ nước, cũng không có tiếng gõ mõ báo canh.

Ta đứng giữa viện, đảo mắt nhìn qua từng thứ một.

Những gì ta từng nói, đều ở đây.

Ta xin là một tòa am ni cô. Thứ chàng cho, là sân viện mà ta từng phác họa.

“Cổng…” Ta quay đầu nhìn cái lỗ trống làm cổng kia.

Lão quản sự khom người nói: “Đây là lỗ hổng tạm để ra vào. Chủ gia dặn dò, cổng viện mở hướng nào, đợi cô nương tự mình định đoạt.”

Ông ấy rút từ trong ngực ra một gói giấy dầu, hai tay dâng lên.

“Đây là khế đất.”

Ta mở ra.

Chữ trên khế đất viết ngay ngắn chỉnh tề. Ta nhìn một mạch đến dòng cuối cùng, đó là ngày lập khế.

Mười ba tháng Mười.

Ta đại hôn là mùng sáu tháng Mười.

Đó là ngày thứ bảy sau đại hôn. Lúc đó, chàng mới chỉ gặp ta một lần.

Ta cầm tờ giấy đó, đứng giữa viện rất lâu.

Hà cô cô đứng sau lưng ta, khẽ cất lời:

“Cô nương.”

Bà cũng không gọi ta là nương nương nữa.

“Năm đó cô nương hỏi nô tỳ, câu nói trên triều là do ai nói, nô tỳ bảo không biết.”

“Nô tỳ biết.”

Ta không quay đầu.

“Vụ án của Nhan gia nghị luận đến ngày thứ ba, Bùi lão thái gia đã nói một câu trên triều: ‘Hoàng hậu là con gái Nhan thị, sao có thể một mình thoát tội.’ ”

“Lúc đó, người đương gia của Bùi gia đã là lão phu nhân rồi.”

Tổ phụ qua đời năm ta bảy tuổi. Ta nhớ ngày ông xuất bôn, tổ mẫu không rơi một giọt nước mắt.

“Lúc tiên đế định tội Nhan gia, đã không gạt tiên hoàng hậu ra ngoài. Bà đến cuối cùng vẫn là hoàng hậu, cũng vẫn là con gái Nhan gia.”

“Đêm đại hôn bệ hạ nói, đợi khi động được vào Bùi gia, chuyện đầu tiên chính là phế hậu.”

“Lời đó, sau này bệ hạ cũng từng dặn dò nô tỳ. Thu binh quyền, vây Bùi phủ, là phòng ngừa bọn họ làm loạn. Nhưng trước khi định tội Bùi gia, phải phế hậu trước, sau đó dùng minh chỉ chặt đứt liên hệ giữa cô nương và bổn gia, không thể để câu nói năm xưa rơi xuống đầu cô nương nữa.”

“Đạo chiếu thư đó, tháng thứ hai đại hôn bệ hạ đã soạn rồi. Soạn rồi lại sửa, sửa rồi lại soạn, tám chữ ‘không về bổn tông, không tru di cửu tộc’ này, bản thảo đầu tiên đã có.”

“Nếu cô nương vẫn còn ở trung cung, Bùi gia sẽ lấy cô nương ra làm bài văn. Bệ hạ không chịu giữ cô nương lại, cũng sợ cô nương sẽ gửi gắm mong mỏi chuỗi ngày sau này ở chốn thâm cung.”

Ta siết chặt tấm khế đất, khớp ngón tay trắng bệch.

“Còn về thanh gỗ đồng hồ, là bệ hạ bảo nô tỳ chỉnh thấp xuống. Ngài ấy ngồi ở cung Trường Thu bao lâu, Nội thị tỉnh sẽ ghi chép theo canh giờ nô tỳ báo, quyển sổ đó, người Bùi gia có thể lật xem được.”

“Bệ hạ mãi không viên phòng với cô nương, cũng là vì hai chữ trên chiếu thư kia.”

Vô xuất.

Ta cúi đầu, nhìn khế đất trong tay.

Nước mắt rơi xuống, đập nát mấy chữ “mười ba tháng Mười”.

Đây là lần thứ hai ta khóc sau khi nhập cung.

Trong viện này, không có ai bảo không được khóc.

Ta khóc rất lâu, Hà cô cô đứng một bên, không hề khuyên can.

Đợi khi ta khóc xong, ta hỏi bà:

“Chàng sẽ đến chứ?”

Hà cô cô trầm mặc một lát.

“Bệ hạ nói, giờ giấc nơi đây, không nên có người nào định đoạt thay cô nương nữa.”

“Bao gồm cả ngài ấy.”

13

Vụ án của Bùi gia xét xử ròng rã hai tháng.

Vị tướng quân Tây doanh kia chính là huynh trưởng của nhị thẩm, ông ta đã khai ra tên của các môn sinh. Bức tấu chương liên danh chưa kịp dâng lên, đã bị lục soát ra từ trong thư phòng Bùi phủ.

Phụ thân và nhị thúc đều bị phán lưu đày. Tổ mẫu chưa đợi đến ngày áp giải, tháng Năm đã bệnh chết trong ngục.

Trước khi chết người nhờ người mang lời, muốn gặp ta một lần.

Ta không đi.

Ngày mẫu thân theo phụ thân lên đường, ta cũng không đi tiễn. Về sau Ngô bà tử nói, mẫu thân ở cửa thành đã ngoái đầu nhìn lại rất nhiều lần.

A tỷ được ân xá. Tỷ ấy không đội duy mạo nữa, bán vài món trang sức cũ, thuê hai gian phòng ở kinh thành, mở một lớp học nhỏ, dạy chữ cho các bé gái.

Tháng Sáu, tỷ ấy tới thăm ta.

Tỷ ấy đi một vòng quanh sân, ngắm miệng giếng kia, lại ngắm tảng đá xanh, cuối cùng đứng trước cổng trống trơn.

“Cổng sao vẫn chưa lắp?”

“Vẫn chưa nghĩ xong sẽ mở về hướng nào.”

A tỷ nhìn ta một cái, không hỏi nữa.

Lúc gần đi, tỷ ấy nắm lấy tay ta, vành mắt ta đỏ lên.

Tỷ ấy nói: “Lần này ngươi khóc, không ai phạt ngươi đâu.”

Tháng Bảy, kinh thành truyền tới tin tức.

Cung Trường Thu phong cung, phượng ấn khóa nguyên tại chỗ, không hề di dời.

Bệ hạ hạ chỉ, không lập hậu nữa.

Hôm đó, ta sai người mời thợ mộc đến, trổ một cổng lớn ở bờ tường phía tây. Chập tối, cổng viện đã lắp xong, cái lỗ hổng để tạm ra vào trước kia cũng được xây kín lại.

Cổng mở về hướng tây.

Phía tây là kinh thành.

Mùng một tháng Tám.

Đêm xuống, ta ngồi trên tảng đá xanh cạnh giếng, đối diện với cổng viện mở về hướng tây.

Trong viện không có đồng hồ nước, cũng không có tiếng gõ mõ báo canh. Ta không biết đã qua bao lâu, cũng không biết một canh giờ dài đến mức nào.

Ngày thứ hai sau đại hôn, ta đứng bên chiếc đồng hồ nước, nhờ Hà cô cô dạy ta cách nhận biết vạch chia.