12
Lớp bổ túc ngày càng phát triển tốt.
Tôi mở thêm một lớp căn bản, chuyên dành cho người mất gốc.
Cùng lúc, cuốn giáo trình tiếng Anh do tôi biên soạn cũng bắt đầu có tiến triển bên phía nhà xuất bản.
Biên tập viên rất hứng thú với nội dung tôi viết, nhận xét là mới mẻ và phương pháp rất thực tế.
“Cô Linh ơi, bộ giáo trình của cô mà xuất bản thì chắc chắn sẽ được đón nhận rộng rãi lắm đấy.”
Biên tập viên hào hứng nói qua điện thoại.
“Khi nào thì có thể phát hành vậy?”
Tôi quan tâm hỏi.
“Sớm nhất cũng phải sang xuân năm sau. Dạo này nhà in đang quá tải.”
Tôi gật đầu.
Khoảng thời gian đó vẫn chấp nhận được.
Xuân năm sau cũng chính là lúc bắt đầu đăng ký thi đại học – đúng thời điểm vàng.
Ngoài việc biên soạn giáo trình, tôi còn bắt đầu tính đến chuyện mở thêm nhiều lớp bổ túc hơn.
Không chỉ dạy tiếng Anh mà cả toán, ngữ văn, vật lý…
Tất nhiên, tôi không thể một mình dạy hết tất cả các môn, nên phải tìm thêm giáo viên phù hợp.
Tôi bắt đầu để ý tuyển người từ các trường cấp ba trong huyện, chẳng bao lâu đã tìm được vài ứng viên khá tốt.
Trong đó có một thầy giáo dạy toán tên Triệu Minh, không chỉ giỏi chuyên môn mà nhân cách cũng rất ổn.
“Cô Linh à, tôi thấy ý tưởng của cô rất hay.”
Triệu Minh tỏ ra hào hứng sau khi nghe kế hoạch của tôi.
“Đúng là hiện tại rất cần những lớp bổ túc như thế.”
“Vậy anh có muốn hợp tác không?” Tôi hỏi.
“Dĩ nhiên là muốn rồi.” Anh gật đầu, “nhưng tôi có một điều kiện.”
“Điều kiện gì vậy?”
“Tôi muốn tính chia phần theo hiệu quả, chứ không lấy lương cố định.”
Yêu cầu đó rất hợp lý, tôi lập tức đồng ý.
Chẳng bao lâu, trường bổ túc của tôi đã hình thành được quy mô cơ bản.
Tiếng Anh, Toán, Ngữ văn, Vật lý – bốn môn học.
Sáu giáo viên.
Ba lớp học.
Quy mô không lớn, nhưng ở thời điểm đó thì đã rất đáng nể rồi.
Điều khiến tôi vui nhất là tinh thần học tập của học viên cực kỳ tốt, hiệu quả cũng rõ rệt.
Trong đợt thi đại học đầu tiên, hơn tám mươi phần trăm học viên của chúng tôi đều đậu vào đại học.
Thành tích đó tạo ra một làn sóng xôn xao khắp huyện.
Trường bổ túc của tôi lập tức nổi như cồn.
“Cô Linh, cô giỏi quá đi mất!”
Một học viên đậu vào trường sư phạm xúc động nói.
“Nếu không có cô, em chắc chắn không thể đậu được đại học!”
“Là do em chăm chỉ thôi,” tôi khiêm tốn cười, “cô chỉ là người đưa ra phương pháp.”
“Không đâu, phương pháp của cô thực sự hiệu quả lắm!”
Một học viên khác tiếp lời.
“Chúng em biết ơn cô nhiều lắm!”
Nhìn đám học viên trẻ đầy xúc động, trong lòng tôi tràn ngập cảm giác thành tựu.
Cái cảm giác giúp người khác thay đổi vận mệnh, thực sự khiến người ta thấy thỏa mãn hơn bất cứ điều gì.
Tuy nhiên, thành công cũng kéo theo một vài rắc rối không lường trước.
Ví dụ như… đối thủ cạnh tranh.
Trong huyện bắt đầu có thêm vài người cũng mở lớp bổ túc, thậm chí còn cố tình bôi xấu chúng tôi.
“Nghe nói cô Linh đó đời tư rất phức tạp, đã ly hôn nữa cơ mà.”
“Ừ, phụ nữ như vậy thì dạy dỗ học sinh gì được chứ?”
Những lời đồn độc địa này, tuy vô căn cứ, nhưng vẫn khiến một số phụ huynh dao động.
Một vài người rút con khỏi lớp tôi, chuyển sang trung tâm khác.
Về việc này, tôi không mấy để tâm, vì tôi tin rằng: vàng thật thì chẳng sợ lửa.
Thực lực luôn là câu trả lời đanh thép nhất.
Quả nhiên, không lâu sau, mấy học viên chuyển đi lại quay trở lại lớp tôi.
“Cô Linh, xin lỗi cô, đáng lẽ chúng tôi không nên tin vào lời đồn.”
Một phụ huynh chân thành xin lỗi.
“Không sao, lựa chọn là quyền của anh chị.” Tôi bình thản đáp.
“Miễn sao các con học tốt là được.”
Chuyện này càng khiến tôi vững tin vào việc tiếp tục theo đuổi con đường giáo dục này.
Dù có khó khăn gì, tôi cũng sẽ làm tới cùng.
Vì tôi biết, đây không chỉ là một công việc — mà còn là một hành trình đầy ý nghĩa, mang lại lợi ích cho xã hội.
13
Mùa xuân năm 1978, bộ giáo trình tiếng Anh của tôi chính thức được phát hành.
“Giáo Trình Tiếng Anh Thực Dụng” vừa ra mắt đã được đón nhận nồng nhiệt, chỉ trong vòng một tháng đã tái bản tới ba lần.
Khi biên tập viên gọi điện báo tin vui, tôi đang đứng lớp giảng bài.
“Cô Linh! Sách của cô bán được hơn mười vạn bản rồi đấy!”
Biên tập viên phấn khích nói,
“Trong giới sách giáo trình thì đây đúng là một kỳ tích đó!”
Sau khi gác máy, tâm trạng tôi vô cùng phấn khích.
Điều này không chỉ có nghĩa là tôi có thêm thu nhập, mà còn chứng tỏ phương pháp giảng dạy của tôi đã được công nhận rộng rãi.
Tiền nhuận bút tuy không quá nhiều, nhưng với tôi lúc đó thì đúng là một khoản kha khá.
Tôi quyết định dùng số tiền này để mở rộng quy mô trường bổ túc.
Tôi thuê thêm một toà nhà nhỏ cạnh Nhà Văn hoá huyện, sau khi sửa sang lại thì dùng làm cơ sở giảng dạy chính thức.
Cũng đồng thời tuyển thêm nhiều giáo viên và mở rộng các môn học.
Tính đến cuối năm 1978, trường bổ túc của chúng tôi đã có hơn hai mươi giáo viên và hơn ba trăm học viên.