Chỉ còn tiếng thở của nhau…và tiếng mưa xa xôi bên phía chị.“Lương An.”
Chị bỗng gọi tên tôi.Rất trang trọng.
Tên đầy đủ.
Không phải Tiểu An.“Hửm?”“Ngày kia chị về.”
Chị nói.“Chiều tới.”“Ồ…”
Tim tôi tự nhiên đập nhanh hơn một chút.“Được…”“Ngủ sớm đi.”
Giọng chị qua điện thoại mềm hơn thường ngày.“Đừng sợ sấm.”
“Em không sợ.”
Tôi cố cứng miệng.
Chị lại cười khẽ, trầm thấp.“Cúp đây.”“Ừ. Tạm biệt.”
Cuộc gọi kết thúc.Tôi áp điện thoại lên ngực, nghe tiếng mưa vẫn dữ dội ngoài kia.
Gì chứ…người sợ mưa và sợ sấm rõ ràng là chị.
20
Ngày Tạ Dịch trở về, nắng rất đẹp.
Chị trông hơi mệt, nhưng tinh thần vẫn ổn.
Trong bữa tối, chị đưa tôi một chiếc hộp nhỏ.“Đi ngang qua, thấy…”“nghĩ hợp với em.”
Tôi mở ra.
Bên trong là một sợi dây chuyền bạc mảnh.
Mặt dây là một giọt pha lê trong suốt hình giọt mưa.
Rất đơn giản, rất sạch sẽ.“Cảm ơn.”
Tôi khẽ nói, trong lòng ấm áp lạ thường.
Chị gật đầu, tiếp tục ăn cơm.
Một lúc sau, như vô tình hỏi:“Ở trường… em có quen không?”
Tôi ngẩn ra một chút mới kịp hiểu chị đang hỏi chuyện tôi đã đi tham quan trường trước đó.
“Ừm! Trường rộng lắm, thư viện đặc biệt đẹp, mà sườn xào chua ngọt ở căng-tin ngon cực luôn…”
Tôi hào hứng kể.
Chị yên lặng nghe, thỉnh thoảng chỉ “ừ” một tiếng.
Ngoài cửa sổ, ánh hoàng hôn chậm rãi buông xuống, nhuộm cả phòng ăn thành một màu vàng ấm áp.
21
Tháng chín, tôi chính thức nhập học.
Tạ Dịch quả nhiên đã sắp xếp cho tôi một căn hộ nhỏ gần trường, nhưng phần lớn thời gian tôi vẫn ở ký túc xá.
Tôi sống như một sinh viên đại học bình thường.
Chị cho người âm thầm bảo vệ tôi, tôi biết, nhưng không vạch trần.
Cuối tuần, tôi sẽ về trang viên.
Có lúc chị ở đó, có lúc không.
Nếu chị ở, chúng tôi có thể cùng ăn một bữa cơm, hoặc mỗi người đọc sách riêng.
Nếu chị không ở, tôi sẽ đến nhà kính chăm hoa, hoặc ghé phòng vẽ.
Mãi sau này tôi mới phát hiện, ở góc phòng vẽ phủ bụi, trên chiếc giá vẽ cũ có một bức phác thảo dang dở, mờ mờ là mái hiên làng quê và những vệt mưa.
Đó là thứ chị vẽ khi còn mất trí nhớ.
Tôi ngồi trong phòng vẽ, nhìn tranh của chị, rồi nguệch ngoạc lên tờ giấy trắng trước mặt.
Vẽ rất xấu.
Nhưng lòng lại bình yên.
Có một lần, tôi về trang viên, chị không có ở đó.
Quản gia nói chị đi dự một buổi dạ tiệc đấu giá từ thiện.
Tôi ở trong phòng vẽ, làm hỏng đến tờ giấy thứ ba, có chút nản.
Bên ngoài bỗng bắt đầu mưa, tí tách rơi.
Tôi đặt bút xuống, đi đến bên cửa sổ.
Mưa càng lúc càng lớn, trời đất trắng xóa.
Không biết qua bao lâu, sau lưng vang lên tiếng bước chân quen thuộc.
Tôi quay lại, thấy Tạ Dịch đứng ở cửa phòng vẽ.
Chị mặc bộ vest váy đen trang trọng, cà vạt đã bị kéo lỏng, trong tay cầm một chiếc hộp nhung dài, vai hơi ướt.
Giống như vừa vội vàng chạy về.
“Trời mưa rồi.” Tôi nói.
“Ừ.” Chị bước vào, đặt hộp xuống bàn bên cạnh một cách tùy ý. “Vẽ thế nào rồi?”
“Rất xấu.” Tôi thành thật.
Chị đi tới nhìn qua, không nhận xét xấu hay đẹp, chỉ nói:“Màu dày quá.”“Ồ.” Tôi ghé sát. “Vậy phải làm sao?”
Chị cầm dao gạt màu, động tác thuần thục giúp tôi gạt bớt lớp sơn thừa.
Góc nghiêng chị tập trung, hàng mi rất dài.
“Trước đây chị từng dạy em.” Tôi bỗng nói.
Tay chị khựng lại một chút.“Ừ.”
“Sau đó em quên mất.” Tôi hơi ngượng. “Em ngốc quá.”“Không ngốc.”
Chị khẽ nói, vẫn tiếp tục động tác.“Tiểu An vẽ rất tốt rồi.”
Lớp màu thừa được gạt đi, bức tranh trông thoáng hơn hẳn.
Chị đặt dao xuống, nhìn ra ngoài cửa sổ.
“Mưa chắc chưa dừng ngay được.”“Ừm.”“Đói không?”“Có chút.”“Bếp có hầm canh.”
Chị nói.“Xuống uống chút đi.”“Được.”
Chúng tôi cùng xuống lầu.
Đến khúc ngoặt cầu thang, chị bỗng dừng lại, lấy từ túi trong áo vest ra thứ gì đó, đưa cho tôi.
Là một viên kẹo.
Gói bằng giấy bóng kính kiểu cũ.
Giống hệt hồi nhỏ.“Đi đường thấy.”
Giọng chị bình thản, như thể mua viên kẹo này cũng chẳng khác gì mua một tờ báo.
Tôi nhận lấy, nắm trong lòng bàn tay, giấy gói kêu sột soạt.“Cảm ơn.”
Chị không nói gì, tiếp tục bước xuống.
Tôi đi sau lưng chị, nhìn bóng dáng thẳng tắp và vững chãi dưới ánh đèn.
Bỗng nhiên cảm thấy…cơn mưa đã rơi suốt bao nhiêu năm ấy, có lẽ thật sự sắp tạnh rồi.