Bài vở và phép tắc mà bọn trẻ bỏ bê, cũng phải bù đắp lại từng chút một.

Những thứ Hứa Tri Chỉ đã cuỗm đi, có những thứ vĩnh viễn không đòi lại được.

Nhưng những thứ đó, đã không còn thuộc trách nhiệm thu dọn của tôi.

Nửa tháng sau, tôi mang theo lô thuốc bổ viên đầu tiên mà chú Phương đã chọn kỹ, lên đường tới tỉnh thành.

Ngày tiệm nhỏ ở tỉnh thành treo tấm biển Liễu Ký, thời tiết rất đẹp.

Khách do quản sự Nghiêm mời đến không nhiều, nhưng đều là những người thật sự cần thuốc.

Tôi không nói những lời đao to búa lớn sáo rỗng.

Chỉ bảo A Quý nhóm lò thuốc, để chú Lương trực tiếp biểu diễn cách canh lửa, bảo Tạ Nghiên dán từng tờ đơn thuốc cho ngay ngắn.

Tạ Lăng xếp các gói thuốc vuông vức thẳng tắp.

Tạ Tiểu Mãn đứng ở cửa, chằm chằm nhìn từng đứa trẻ bước vào tiệm, nhắc nhở thật nghiêm túc:

“Ăn đồ ngọt xong nhớ súc miệng nhé.”

Có người bị nó chọc cười.

Khi tiếng cười của vị khách trên tỉnh đầu tiên vang lên trong tiệm, tôi đứng sau quầy, vuốt ve cuốn sổ tay cũ kỹ kia.

Các trang giấy đã lật đến mềm oặt.

Bên trong đã được bổ sung thêm nội dung mới.

Hơi ẩm trên tỉnh thành nặng hơn, mạch môn phải phơi thêm nửa ngày.

Độ ngọt của thuốc bổ viên không được lấn át mùi thuốc.

Ngày đầu tiên mở tiệm mới, bán được hai mươi bảy hộp, khách trả lại: không.

Chập tối trước lúc đóng cửa, Tạ Văn Chu sai người gửi đến một bức thư.

Thư rất ngắn.

Anh ta kể tiệm thuốc cũ ở phố cũ đã đổi thành tiệm tạp hóa.

Anh ta kể mình thuê một căn phòng nhỏ ở đầu phố, chép sách thuê cho người ta, tay phải không viết được, thì từ từ luyện bằng tay trái.

Anh ta kể sức khỏe của mẹ Tạ đã khá hơn, bọn trẻ cũng hiểu chuyện hơn trước.

Câu cuối cùng, anh ta viết:

“A Đường, tôi sẽ không bao giờ cầu xin em quay đầu lại nữa.”

Tôi xem xong, gấp bức thư lại, cất vào ngăn kéo.

Không hồi âm.

Năm thứ hai, Liễu Ký đứng vững gót chân ở tỉnh thành.

Cái sân nhỏ ở phố cũ vẫn mở cửa, do chú Phương trấn thủ.

Tạ Nghiên thi đỗ vào trường y trên tỉnh, tiền học phí một nửa là do nó tự chép đơn thuốc kiếm được, một nửa do Tạ Văn Chu chu cấp.

Tạ Lăng ở lại Liễu Ký học cách bào chế, tay bị phỏng mấy lần, cũng chưa từng than khổ lấy nửa lời.

Tạ Tiểu Mãn đã thay răng mới, sợ nhất là người khác cho nó kẹo.

Mẹ Tạ thỉnh thoảng lại lên tỉnh thành ở vài ngày, lần nào cũng ngồi sưởi nắng ở sân sau của tiệm, không còn nhắc lại chuyện cũ của nhà họ Tạ nữa.

Tạ Văn Chu không lấy vợ nữa.

Tay phải anh ta vẫn phế, chữ tay trái thì luyện càng lúc càng vững.

Anh ta chép sách thuê, chép đơn thuốc thuê, sống cảnh đạm bạc, nhưng rốt cuộc cũng có thể tự mình lăn xe đi hết một con phố.

Có một lần, anh ta nhìn thấy tôi ở ngã tư đường trên tỉnh thành.

Hôm đó chi nhánh thứ hai của Liễu Ký khai trương, tôi bước xuống từ xe ngựa, đi bên cạnh là người làm và đám thợ học việc.

Anh ta dừng lại ở phía bên kia đường.

Dòng người qua lại tấp nập, anh ta không gọi tôi.

Tôi cũng không bước sang đó.

Chỉ gật đầu với anh ta một cái trước khi bước vào cửa tiệm.

Anh ta sững người rất lâu, rồi cũng khẽ gật đầu đáp lại.

Sau này Tạ Nghiên kể lại với tôi, ngày hôm đó bố nó về nhà, ngồi trước cửa sổ cắm cúi viết suốt một đêm.

Trên mặt giấy chỉ có đúng một câu.

“Cô ấy cuối cùng cũng đã sống cuộc đời của chính mình.”

Tôi nghe xong, không hỏi thêm nữa.

Lò thuốc của Liễu Ký vẫn rực lửa.

Đứa học việc mới nhận nhóm lửa hơi quá tay, mùi thuốc bị nổi bồng lên.

Tôi bước tới, cầm móc sắt ấn bớt than xuống.

Ngọn lửa chùng xuống, hương thuốc dần quyện lại, đầm ấm hơn.

Bên ngoài có người gọi:

“Thẩm chưởng quỹ, thuốc bổ của Lão phu nhân nhà họ Nghiêm xong chưa?”

Tôi thưa một tiếng, xắn cao ống tay áo lên.

“Xong rồi, đến ngay đây.”

Mùa đông năm đó, Liễu Ký vững vàng bám rễ ở tỉnh thành.

Sau khi căn bệnh hen suyễn của Lão phu nhân nhà họ Nghiêm được khống chế, quản sự Nghiêm đã giới thiệu cho tôi thêm vài gia đình có truyền thống buôn bán xa. Những người đó không thích nghe lời đường mật, chỉ coi trọng hiệu quả của thuốc. Lượng tiêu thụ thuốc bổ viên của Liễu Ký từ vài chục hộp mỗi tháng vào thời điểm ban đầu, từ từ nhích dần lên ba trăm hộp mỗi tháng.

Tôi không bành trướng thêm nữa.

Mỗi một lô dược liệu nhập vào, tôi đều đích thân kiểm tra lại một lượt. Chú Phương đã lớn tuổi, mắt mũi không còn tinh tường như trước, tôi liền để Tạ Lăng theo học cách phân biệt dược liệu.

Tạ Lăng chịu khó hơn tôi tưởng rất nhiều.

Từ một đứa trẻ bị đâm kim châm vào tay cũng khóc bù lu bù loa cả nửa ngày trời, nay phơi thuốc đến mức mu bàn tay bong tróc từng mảng da, con bé cũng chỉ bôi qua loa chút thuốc mỡ, ngày hôm sau lại tiếp tục khuân vác mẹt tre.

Đến năm thứ ba, nó đã có thể một mình trông coi một căn phòng bào chế thuốc.

Khi tôi giao chiếc chìa khóa mới đầu tiên của Liễu Ký cho Tạ Lăng, con bé nắm chặt chiếc chìa khóa khóc nức nở rất lâu.

“Mẹ, trước kia con đúng là đồ khốn nạn.”

Tôi chỉ bảo: “Sau này đừng khốn nạn nữa là được.”

Tạ Nghiên thi đỗ vào trường y, năm đầu tiên còn bị người ta cười nhạo.