Nơi đây không có sự ồn ào của khách du lịch, chỉ có sự tĩnh lặng của buổi sớm mai và bầu không khí khói lửa bình dị đậm chất Bắc Kinh xưa.

Chúng tôi men theo con hẻm đi vào trong, đi khoảng mười mấy phút, quả nhiên ở sâu trong hẻm nhìn thấy cây hòe già khổng lồ mọc nghiêng đó.

Nó giống như một người bảo vệ trầm mặc, chứng kiến bao thăng trầm của năm tháng nơi đây.

Tìm thấy “Cây hòe nghiêng”, cũng đồng nghĩa với việc tìm thấy hướng đi.

Bước tiếp theo, chính là tìm “Cửa ngân hạnh”.

Chúng tôi bắt đầu đi vào những con ngõ rẽ nhỏ gần đó để cẩn thận tìm kiếm.

Cuối cùng, tại một góc rẽ không lấy gì làm nổi bật nhất, chúng tôi nhìn thấy một cánh cổng viện nhỏ bé.

Cánh cổng sơn màu đỏ chu sa đã hơi phai màu, trước cổng, trồng đối xứng hai cây ngân hạnh cao lớn.

Gió thu thổi qua, những chiếc lá vàng ươm rơi xào xạc xuống đất, tựa như trải lên một tấm thảm vàng rực rỡ.

Phía dưới góc phải của lanh tô cửa, treo một tấm biển gỗ nhỏ xíu dường như đã bị năm tháng bào mòn.

Trên tấm biển, dùng lối chữ triện cổ mộc, khắc ba chữ.

Tùng Thạch Trai.

Chúng tôi… cuối cùng đã tìm thấy rồi.

Nhìn ba chữ đó, nước mắt tôi nháy mắt đã làm nhòa đi tầm nhìn.

Bao nhiêu ấm ức, ngược xuôi vất vả, hoang mang lạc lối, trong khoảnh khắc này, đều hóa thành những giọt nước mắt nóng hổi.

Mẹ tôi cũng khóc, bà vươn bàn tay run rẩy, nhẹ nhàng vuốt ve tấm biển đã dãi dầu sương gió, như thể đang vuốt ve thanh xuân và sự tôn nghiêm mà bà vừa tìm lại được.

Chúng tôi đứng trước cửa, bình ổn cảm xúc hồi lâu.

Cuối cùng, mẹ tôi hít sâu một hơi, quay sang nhìn tôi, ánh mắt vô cùng trịnh trọng.

“Tiểu Thấm, chúng ta vào trong.”

Tôi dùng sức gật đầu.

Tôi bước lên một bước, giơ tay, nhẹ nhàng gõ lên cánh cổng gỗ màu đỏ chu sa.

“Cộc, cộc, cộc.”

Tiếng gõ cửa trầm đục, vang vọng trong con hẻm tĩnh lặng.

Đồng thời cũng gõ mở ra một tương lai hoàn toàn mới cho hai mẹ con chúng tôi.

Cánh cửa phát ra tiếng động trầm đục trong con hẻm im ắng, giống như một hòn đá ném xuống mặt giếng cổ, tạo ra từng vòng âm vang.

Tôi và mẹ đứng trước cửa, tim thót lên tận cổ họng.

Thời gian dường như bị kéo dài ra trong giây phút này.

Mỗi một giây chờ đợi đều là một cực hình.

Tôi thậm chí có thể nghe thấy tiếng tim đập kịch liệt của chính mình, cùng với nhịp thở có phần gấp gáp của mẹ.

Ngay lúc tôi tưởng sẽ không có ai ra mở cửa, nơi đây có khi đã vườn không nhà trống, thì bên trong truyền đến một tràng tiếng bước chân nhè nhẹ.

Ngay sau đó, một tiếng “két” vang lên, cánh cổng màu đỏ chu sa nhuốm màu sương gió kia hé ra một khe hở từ bên trong.

Một khuôn mặt trẻ tuổi lấp ló qua khe cửa.

Đó là một thanh niên trạc ngoài hai mươi, mặc một bộ đồ vải lanh pha cotton kiểu cổ truyền, mái tóc chải chuốt gọn gàng không một cọng rối, lông mày thanh tú, nhưng vẻ mặt lại toát lên sự lạnh nhạt xa cách khiến người ta e ngại.

Ánh mắt cậu ta quét qua hai mẹ con tôi và chiếc vali dưới chân, lông mày khẽ nhíu lại.

“Các người tìm ai?” Giọng nói cậu ta giống hệt biểu cảm trên mặt, lạnh băng, không có lấy một tia ấm áp.

Bị thái độ của cậu ta làm cho luống cuống, tôi nhất thời không biết phải mở lời thế nào.

Mẹ tôi nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, bà bước lên một bước, nở nụ cười khách sáo nhưng giữ khoảng cách.

“Xin hỏi, Chung gia có ở đây không?”

Người thanh niên nghe thấy hai chữ “Chung gia”, trong mắt lóe lên một tia cảnh giác.

Cậu ta đánh giá hai mẹ con từ trên xuống dưới, ánh mắt càng thêm vẻ dò xét.

“Ở đây chúng tôi không có ai tên Chung gia cả.” Cậu ta cứng nhắc từ chối.

“Chúng tôi cất công lặn lội từ xa tới đây, có chuyện vô cùng hệ trọng muốn được gặp ngài ấy một lần.” Giọng mẹ tôi vẫn không kiêu ngạo cũng chẳng siểm nịnh.