Lợi dụng sự hỗn loạn ngàn năm có một này, ta kéo A Xuân, không suy nghĩ lao thẳng vào đám đông.

Chúng ta lội ngược dòng người, chen chúc xuống thuyền.

Khi hai chân chạm vào mặt đất vững chãi, chân ta mềm nhũn, suýt nữa thì quỵ ngã.

“Tiểu thư, chúng ta mau đi!”

A Xuân đỡ lấy ta, trong giọng nói pha lẫn tiếng run rẩy của kẻ sống sót sau kiếp nạn.

Chúng ta không dám ngoái đầu, thậm chí không dám quay lại khoang thuyền đón hài tử.

Bởi vì ta biết, sự hỗn loạn chỉ là tạm thời.

Một khi đứa trẻ rơi xuống nước được cứu lên, cuộc kiểm tra sẽ lập tức tiếp tục.

Chúng ta phải hoàn toàn biến mất trước khi bọn chúng kịp phản ứng.

Ta nhớ vị trí của khoang thuyền.

Ta và A Xuân lén lút vòng qua mạn bên kia của con thuyền, nơi có một đống hàng hóa chất cao.

Ta nhìn vào cửa sổ khoang thuyền, học tiếng mèo kêu vài tiếng.

Đây là ám hiệu ta đã giao ước với các con từ trước.

Rất nhanh, cửa sổ nhỏ được đẩy ra, lộ ra khuôn mặt sợ hãi của Ngữ Chi và Ngữ Ninh.

“Mẫu thân!”

Bọn trẻ gọi khẽ.

“Đừng sợ, nhảy xuống đây, nương đón các con!”

Cửa sổ cách mặt đất không cao, bên dưới lại là nền đất xốp.

Ta bảo A Xuân giang rộng vòng tay đứng ở dưới.

Tuy hai đứa trẻ sợ sệt, nhưng vẫn ngoan ngoãn, từng đứa một bò ra khỏi cửa sổ, nhảy tọt vào lòng A Xuân.

Ta lập tức cởi áo ngoài, bọc chúng lại.

Bốn người chúng ta, tựa như bốn con chim hoảng loạn nỏ thần, đầu không ngoảnh lại rúc thẳng vào con hẻm tấp nập nhất của Hoài An Thành.

Đường thủy, triệt để không thể đi được nữa.

Lưới của Bùi Tế, đã giăng ra rồi.

Chúng ta phải đổi đường khác, một con đường mà chàng không thể nào ngờ tới.

Chúng ta tìm một khách điếm nhỏ tồi tàn hẻo lánh nhất trong thành để tá túc.

Ta bỏ ra giá cao, mua một chiếc xe lừa chắc chắn, cùng lương khô và nước đủ để chúng ta đi nửa tháng.

Chúng ta thay y phục vải gai thô kệch nhất, ngụy trang thành nông phụ chạy nạn.

Sáng sớm hôm sau, trời còn chưa sáng, chúng ta đã đánh xe lừa, trà trộn vào đội ngũ nông dân bán rau vào thành sớm, lặng lẽ rời khỏi Hoài An Thành qua cửa Tây.

Bên ngoài cửa Tây, là quan đạo dẫn sâu vào nội lục.

Đường đi sẽ vất vả hơn, cũng nguy hiểm hơn.

Nhưng đối với chúng ta, đó là con đường sống duy nhất.

Ngồi trên chiếc xe lừa xóc nảy, nhìn bóng hình Hoài An Thành mờ dần trong sương sớm, ta mới thực sự thở phào nhẹ nhõm.

Mãi đến lúc này, ta mới có thời gian để cẩn thận kiểm kê lại những món đồ mang từ Bùi phủ ra.

Ngoài vàng lá, bạc vụn và một số đồ trang sức, ta còn tiện tay vơ lấy một chiếc hộp gỗ tử đàn to bằng lòng bàn tay cất trong góc khuất nhất của kho lẫm.

Lúc đó tình thế cấp bách, ta chỉ cảm thấy chiếc hộp cầm rất nặng tay, tưởng bên trong chứa trân bảo quý giá gì.

Giờ đây, trong thùng xe lừa lắc lư, ta mở chiếc hộp ra.

Khoảnh khắc chiếc hộp mở ra, ta chết sững.

Bên trong không có châu báu.

Chỉ có một con dấu tư ấn bằng ngọc bạch thông thấu ôn nhuận, và một cuốn sổ buộc bằng chỉ vàng sọc tơ.

Trên con dấu, khắc một chữ “Tế” cực kỳ nhỏ nhắn.

Không phải chữ lệ thư thông dụng cho quan ấn, mà là chữ hành khải phiêu dật.

Đây là tư ấn của chàng!

Ta cầm cuốn sổ lên, tay hơi run rẩy.

Ta từ từ lật trang đầu tiên.

Chỉ liếc mắt nhìn, máu toàn thân ta như bị đông cứng ngay khoảnh khắc đó.

Trên sổ, dùng thứ chữ gầy mà ta từng vô cùng ái mộ, ghi chép rõ ràng từng cái tên, từng hàng ngày tháng, từng khoản tiền lớn đến kinh hồn bạt vía.

Hộ bộ Thị lang, bạch ngân năm vạn lượng.

Đại lý Tự khanh, lương điền ba ngàn mẫu.

Lại bộ Thượng thư, ngọc bích Tương Châu một đôi…

Từng cọc, từng món, toàn bộ là danh tính của các đại viên trong triều.

Đây đâu phải là sổ sách gì.

Đây rõ ràng là một cuốn sổ ghi tội chứng đủ để lấy mạng Bùi Tế, thậm chí lật đổ hơn nửa triều đường!

Ta rốt cuộc cũng hiểu.