Ta rốt cuộc cũng hiểu tại sao chàng lại đuổi đến bến đò nhanh như vậy, tại sao lại điên cuồng như thế.

Thứ ta mang đi, không chỉ là tiền tài và thể diện của chàng.

Thứ ta mang đi, là tính mạng của chàng!

Cũng là sinh mạng của vô số quan văn võ tướng trong triều!

Ta nắm chặt cuốn sổ đến trắng bệch cả đầu ngón tay vì dùng sức.

Ta cứ ngỡ mình chỉ đang chạy trốn khỏi một kẻ bội bạc đội lốt trượng phu.

Bây giờ ta mới hay.

Ta đang đối địch với cả một tập đoàn lợi ích khổng lồ, thâm căn cố đế, mục nát không kham nổi.

10

Chiếc xe lừa xóc nảy, như muốn lộn nhào cả lục phủ ngũ tạng con người.

So với chiếc xe ngựa lót đệm nhung êm ái, chạy êm ru ta từng ngồi trước đây, thì quả thật là khác biệt một trời một vực.

Ngữ Chi và Ngữ Ninh ban đầu còn thấy lạ lẫm, nhưng chưa đầy nửa ngày, đã ỉu xìu.

Khoang xe chật hẹp, không khí ngột ngạt, bụi bặm vàng ố trên quan đạo bay lọt qua khe hở của tấm màn vải thô, sặc đến nỗi làm người ta ho rũ rượi.

Thứ chúng ta ăn, là lương khô vừa cứng vừa lạnh; uống là nước lã đựng trong bao da mang vị ngai ngái.

Chỉ vỏn vẹn ba ngày, ta đã sút đi một vòng.

Nhưng ta không dám dừng lại.

Ta thậm chí không dám tá túc qua đêm ở những thị trấn đông người hay dịch trạm.

Ban ngày chúng ta hối hả lên đường, ban đêm tìm một ngôi miếu hoang hoặc căn chòi nát của nông phu để ngủ lại cho qua đêm.

A Xuân xót ta, lại càng xót hai đứa nhỏ.

“Tiểu thư, người làm sao từng phải chịu cái khổ sở thế này.”

Mắt nàng đỏ hoe, đưa cho ta một miếng bánh.

“Tất cả đều tại cô gia, đồ lang tâm cẩu phế!”

Ta lắc đầu, nhận lấy bánh lót dạ, bẻ làm đôi, đưa một nửa cho A Xuân.

“Giờ nói những lời này cũng vô dụng rồi.”

Giọng ta bình thản đến mức chính ta cũng kinh ngạc.

“A Xuân, nhớ kỹ, từ nay trở đi, trên đời này không còn Thái phó phu nhân Ôn Thư nào nữa, chỉ có quả phụ Lâm Vãn mang theo vú nuôi và con cái chạy nạn.”

Trái tim ta, trong chuyến hành trình bôn tẩu trốn tránh sinh tử này, bị mài giũa ngày càng sắc bén cứng cỏi.

Cái nữ tử từng bi thu thương xuân, vì một câu thơ từ mà cảm hoài mất nửa ngày là Ôn Thư, đã chết vào buổi rạng sáng rời khỏi Bùi phủ rồi.

Kẻ sống sót, là một người mẹ.

Một người mẹ vì bảo vệ nữ nhi, có thể biến thành sài lang, có thể hóa thành ác quỷ.

Ban ngày, ta dùng nhọ nồi bôi đen nhẻm mặt mũi của cả bốn người.

Những bộ y phục lụa là rực rỡ của hai đứa trẻ đã bị ta cất gọn, thay vào đó là bộ đồ vải thô chắp vá ta mới sắm sửa.

Ta dạy chúng, nếu có người hỏi han, cứ bảo cha chết bệnh, quê nhà gặp họa, chúng ta phải về phương Nam nương nhờ họ hàng xa.

Bọn trẻ rất hiểu chuyện, tuy không hiểu chuyện gì xảy ra, nhưng từ vẻ mặt ngưng trọng của ta, chúng nhận ra một mối nguy hiểm chưa từng có.

Chúng không nháo nhào làm nũng nữa, chỉ lặng lẽ rúc chặt vào bên cạnh ta.

Trên quan đạo, người chạy nạn, người đi đường, thương nhân bộ hành tấp nập.

Mỗi một khuôn mặt xa lạ đều khiến ta phải giật mình cảnh giác.

Mỗi một đội quan binh đi tuần ngang qua đều làm ta nơm nớp thót tim.

Cuốn sổ ghi chép và con dấu được ta dùng mảnh vải dầu bọc kín từng lớp, khâu dính chặt vào lớp lót trong cùng của y phục.

Sức nặng nóng hổi của nó như một miếng sắt nung, thời thời khắc khắc nhắc nhở ta, chúng ta đang đối diện với một lũ dã thú ăn thịt người không nhả xương.

Đến chập tối ngày hôm ấy, chúng ta đi ngang qua một trấn nhỏ tên là “Trấn Tam Hà”.

Trấn không lớn, thoạt nhìn vẫn khá bình yên.

Lương thực và nước uống của chúng ta sắp cạn kiệt, bắt buộc phải vào trấn tiếp tế.

Ta dừng xe lừa trong cánh rừng nhỏ ngoài trấn, để A Xuân và lũ trẻ đợi ta trên xe.

Ta lấy khăn trùm nửa khuôn mặt, lưng vác một chiếc bao tải không, cúi gằm mặt, đi bộ khập khiễng vào trấn giống hệt dáng vẻ của đám nông phụ quê mùa.