Tôi mặc áo bông màu xanh quân đội, quàng chiếc khăn kẻ caro anh gửi về cho tôi năm ngoái, mũi đông đến đỏ bừng.

Anh bước tới, đổi túi hành lý đang cầm sang tay trái, tay phải do dự một chút rồi nâng lên giúp tôi siết chặt lại chiếc khăn.

“Đợi lâu chưa?”

“Không lâu.”

Anh nhìn sắc trời, biết tôi đang nói dối, nhưng không vạch trần.

Trên đường về nhà tôi đạp xe chở anh, anh vẫn ngồi sau yên sau.

Lần này anh không do dự nữa, trực tiếp ôm lấy eo tôi.

Lực tay còn lớn hơn lần trước.

Về đến nhà, Hoắc đại nương đã bày biện xong cơm nước. Hoắc Kiến Quốc lấy ra hai chai rượu ngon, nói là lão Mã ở viện kiểm sát gửi tới.

“Vụ án đã có kết quả rồi.” Hoắc Kiến Quốc mở rượu, rót cho Hoắc Hoài An một chén, “Tiền Đại Dũng bị cách chức, điều tra xử lý, chuyển giao cho cơ quan công an. Ba người từng tham gia che giấu sự thật vụ tai nạn của xưởng cán thép năm đó đều đã bị xử lý kỷ luật.”

Đôi đũa trong tay tôi khựng lại.

“Tiền trợ cấp thì sao?”

“Viện kiểm sát xác định vụ tai nạn của mẹ con thuộc loại tai nạn do trách nhiệm, tiền trợ cấp phải tính lại theo tiêu chuẩn của tai nạn do trách nhiệm. Phần chênh lệch được bù cùng với tiền nộp chậm mấy năm nay, tổng cộng bảy trăm hai mươi đồng. Tiền đã chuyển tới Ủy ban Dân chính của huyện, con chỉ cần mang giấy tờ tùy thân tới nhận là được.”

Bảy trăm hai mươi đồng.

Tính thêm hai trăm sáu mươi đồng năm đó, tổng cộng là chín trăm tám mươi đồng.

Mạng của mẹ tôi, ở thời đại này đáng giá chín trăm tám mươi đồng.

Tôi không nói gì.

Hoắc Hoài An dưới gầm bàn nắm lấy tay tôi một cái.

Tay anh rất ấm, rất khô.

Đêm đó, tôi đã khóc trong căn buồng phía đông.

Không phải vì tiền, mà vì mẹ tôi.

Lúc bà chết, tôi mới mười lăm tuổi. Tôi thậm chí còn không được nhìn mặt bà lần cuối. Vương Quế Phương không cho tôi tới nhà xác, nói rằng “trẻ con tới đó thì không may”.

Đến khi tôi chạy tới bệnh viện, mẹ tôi đã bị đưa vào nhà xác rồi.

Tôi áp trên cánh cửa nhà xác mà khóc suốt một đêm.

Cánh cửa đó bằng sắt, trời tháng Giêng, lạnh đến thấu xương.

Đời này, cuối cùng tôi cũng đòi lại được công bằng cho bà.

Mặc dù đã muộn ba năm.

Hoắc Hoài An ngồi bên mép giường, không nói gì. Anh lấy từ trong túi ra một chiếc khăn tay đưa cho tôi. Vẫn gấp vuông vức, kiểu gấp của bộ đội.

Tôi nhận lấy, lau mặt.

“Sao anh lại mang khăn tay theo người?”

“Chiếc hôm trước em dùng anh đã giặt rồi mang về lại.”

Tôi sững ra một chút.

Chiếc khăn tay đó là miếng anh từng dùng để băng ngón tay cho tôi trước đây.

Anh mang về đơn vị giặt sạch, rồi lại nhét vào người.

Tôi siết chặt chiếc khăn tay, lại muốn khóc.

“Đừng khóc nữa.” Anh nói.

“Em có khóc đâu.”

“Em đỏ mũi rồi.”

“Là vì lạnh.”

Anh không nói gì nữa.

Nhưng anh ngồi sát sang bên tôi.

Gần đến mức vai chạm vai. Tuyết ngoài cửa sổ đã ngừng, ánh trăng chiếu lên giấy dán cửa sổ, sáng trắng một mảng.

20

Mồng tám tháng Giêng, đến ngày lật bài ngửa rồi.

Hoắc Kiến Quốc đã tung tin ra ngoài: trưa mồng tám, nhà họ Thẩm và nhà họ Hoắc cùng ăn một bữa cơm, có việc gì phải nói rõ mặt đối mặt.

Tôi không báo trước cho Vương Quế Phương nội dung cụ thể.

Nhưng tôi mời mấy người tới: dì ruột tôi, Thẩm Đức Phương, từ thị trấn bên cạnh chạy tới; Tôn Lan Anh và chồng cô ấy; còn có ba tôi, Thẩm Đức Hậu.

Trong gian nhà chính nhà họ Thẩm bày hai cái bàn.

Trên bàn là bánh chẻo nhân dưa cải mà Hoắc đại nương và tôi gói từ sáng sớm.

Khi Vương Quế Phương và Thẩm Tri Vi tới nơi, vừa nhìn thấy đầy nhà toàn người là sắc mặt lập tức biến đổi.

“Đây là làm gì vậy? Ăn cơm Tết mà còn mời nhiều người thế?” Vương Quế Phương cười gượng.

Thẩm Tri Vi liếc một lượt những người trong nhà, lúc nhìn thấy Tôn Lan Anh, đồng tử co lại một cái.