Những cuộc điện thoại của Lưu Thục Phân thì ngày một dồn dập, ngày một khó nghe, từ chỗ rỉ rả van nài lúc ban đầu, đến sau đó thì bắt đầu chửi rủa, nói anh ta là đồ vô lương tâm, nói anh ta đủ lông đủ cánh rồi, nói là do tôi bỏ bùa mê thuốc lú khiến anh ta mất hết nhân tính, còn dọa ra đầu làng uống thuốc sâu, để cho cả thiên hạ xem bà ta bị thằng nghịch tử bức tử như thế nào.

Cứ mỗi một cuộc điện thoại, mặt anh ta lại nhợt nhạt đi một lớp, mồ hôi lạnh túa ra trán.

Mấy ngày đó, tôi vẫn đi làm bình thường, tan làm tự nấu chút đồ ăn đơn giản, một bát mì, vài cọng rau xanh, ăn xong xuôi, rửa bát, rồi về phòng vẽ bản thiết kế.

Căn bếp vẫn vắng lặng, nồi cơm điện trống không, bệ bếp sạch bong lạnh ngắt.

Triệu Thần ăn đồ ăn ngoài đến mức đau dạ dày, có một đêm rạng sáng, anh ta cuộn tròn người bên mép giường, sắc mặt trắng bệch, mồ hôi lạnh từng giọt từng giọt túa ra, hai tay ôm bụng, đau đến mức không nói nên lời.

Tôi bị tiếng thở dốc yếu ớt của anh ta làm thức giấc, bước tới, nhìn thấy bộ dạng đó của anh ta, tim tôi thót lại.

“Sao thế?”

Anh ta đau đến mức nói năng lộn xộn, chỉ biết gật đầu thật mạnh, rồi lại lắc đầu.

Tôi lặng lẽ lục hộp thuốc, lấy ra vỉ thuốc dạ dày quen thuộc của anh ta, rót một cốc nước ấm đưa qua.

Anh ta ngước mắt lên, nhìn tôi, trong ánh mắt xẹt qua một tia tủi thân và cảm kích, nhưng cuối cùng chỉ khô khan nói một câu: “Cảm ơn.”

Tôi nhìn anh ta nuốt viên thuốc xuống, quay lại giường.

Đêm đó, anh ta quằn quại đau đớn mất nửa đêm.

Tôi tựa lưng vào đầu giường, nhắm nghiền mắt, nhưng trong lòng lại tỉnh táo dị thường.

Cuộc sống thế này, còn phải trải qua bao nhiêu năm nữa.

Một bên là cái hố sâu vĩnh viễn không bao giờ lấp đầy, một bên là bản thân vĩnh viễn bị hy sinh.

Cho đến tối ngày thứ ba, những cuộc gọi dồn dập như bão táp mưa sa, cuối cùng lại có một bước ngoặt bất ngờ.

Lưu Thục Phân vừa khóc vừa gào, nói trong làng có người lên thị trấn lo công chuyện về, nghe phong phanh chuyện nhà ông Triệu ba bên đó dạo này đang có kiện cáo ầm ĩ, nghe nói là năm xưa bế nhầm con, giữa họ hàng thân thích cãi vã nảy lửa.

“Mày bảo người đâu mà thất đức thế?” Lưu Thục Phân oang oang trong điện thoại, “Con trai ruột người ta tiền đồ xán lạn thế, làm ông chủ lớn trên thành phố, người làm mẹ thấy người ta sống tốt là ngứa mắt, cố tình bảo năm xưa bế nhầm con người ta, bây giờ đòi nhận lại con đẻ, lại còn làm mình làm mẩy đòi chia tài sản. Mày bảo hạng người này thì lương tâm để ở đâu?”

Tôi đang ngồi bên cạnh, vốn không định nghe, nhưng kết quả mấy chữ “bế nhầm con”, “nhận lại con đẻ” đập thẳng vào tai.

Tim tôi, hơi khựng lại một nhịp.

Triệu Thần lại chẳng mấy để tâm, chỉ ậm ừ vài tiếng, qua loa mấy câu, vội vàng lái chủ đề sang tiền mừng cưới, cố gắng đánh trống lảng.

Khoảnh khắc đó, bỗng nhiên trong tôi trào lên một dự cảm rất chẳng lành.

Đêm hôm đó, tôi trằn trọc không sao ngủ được.

Sáng sớm hôm sau, lấy cớ cần tài liệu để vẽ tranh, tôi vác máy ảnh và balo lên, mua vé chuyến tàu cao tốc sớm nhất, thẳng tiến về quê Triệu Thần.

Huyện lỵ nhỏ đó, tôi mới chỉ đến hai lần, một lần trước khi cưới về ra mắt mẹ anh ta, một lần là sau khi cưới về dự tiệc cỗ nhà cậu anh ta. Đường sá không hẳn là xa lạ, nhưng cũng chẳng quen thuộc gì.

Tôi dẫm lên cái nắng ban trưa, men theo con đường nhỏ trong ký ức đi vào làng.

Quán tạp hóa đầu làng vẫn còn, trước cửa bày mấy két nước ngọt, trên ghế nhựa có mấy ông bà lão đang ngồi sưởi nắng.

Tôi bước tới, mua một chai nước, tiện miệng hỏi dạo này trong làng có nhà ai đang kiện cáo ầm ĩ không.

Mắt mấy cụ già lập tức sáng lên, câu chuyện lập tức được mở ra.