Một đêm nọ, sau cuộc triền miên.

Cố Tu Viễn chợt mặc áo đứng dậy, lặng lẽ đi dạo ra giữa sân.

Trên bàn đá đặt một vò rượu đã lạnh ngắt từ lâu.

Hắn ngồi xuống, nhìn chằm chằm vào vò rượu ấy, hồi lâu không động đậy.

Ta tùy tay khoác thêm một chiếc ngoại bào rồi đi ra.

Nhẹ nhàng phủ một chiếc áo choàng màu huyền lên vai hắn.

Hắn không hề phản ứng, như thể đã mất hồn, chỉ cố chấp ngẩng đầu nhìn vầng trăng khuyết trên trời.

Đường môi mím chặt, hốc mắt hõm sâu, dưới ánh trăng càng hiện rõ vẻ suy bại cô quạnh.

Ta ngồi xuống chiếc ghế đá bên cạnh hắn.

“Phu quân, có phải chàng đang nhớ những ngày ở bên ngoài chăng?”

Vai lưng hắn gần như không thể nhận ra mà cứng lại, rồi chậm rãi quay đầu, ánh mắt trống rỗng rơi trên gương mặt ta.

Ta nâng tay, thay hắn sửa lại mấy sợi tóc mai bị gió thổi rối.

“Mấy hôm trước thiếp dọn thư phòng, thấy văn mực năm xưa phu quân để lại.”

“Trong những bài thơ chàng viết, tràn đầy chí khí hùng tâm, là cảnh bôn ba khắp thiên hạ, gây dựng cơ nghiệp. Trong bức họa, nét bút thê lương, vẽ một cánh buồm cô đơn, bóng xa khuất tận cuối trời xanh.”

“Phu quân trong lòng có khe rãnh, thiếp thân vẫn luôn hiểu. Cố phủ bốn bề vuông vức này cùng thành Dương Châu, căn bản không hợp với chàng.”

Yết hầu hắn kịch liệt cuộn lên một cái, đột nhiên chộp lấy chén rượu lạnh trên bàn, ngửa đầu uống ừng ực một ngụm lớn.

Rượu mạnh sặc thẳng vào cổ họng.

Hắn cúi gập người ho khan kịch liệt, ho đến khóe mắt đỏ lên, giọng khàn đặc:

“Không quay về được nữa rồi! Ta thành ra thế này, còn đi ra ngoài thế nào? Một kẻ què chân thì làm sao đứng vững trong thương trường? Làm sao đàm phán làm ăn với người khác?”

Ta bỗng đưa tay, một phát nắm chặt cổ tay đang cầm vò rượu của hắn, giật lấy vò rượu ấy.

Hắn sững ra, kinh ngạc ngẩng đầu nhìn ta.

Ánh trăng rải xuống, ánh mắt chúng ta va chạm giữa không trung, gần đến mức có thể nhìn rõ gương mặt ta trong đáy mắt hắn.

Ta siết chặt vò rượu lạnh băng trong tay, không lùi không né:

“Chính sử triều ta mở nước đến nay, thiếp thân chưa từng nghe nói qua có thương nhân què chân.”

“Nhưng chàng, Cố Tu Viễn, từ thuở thiếu niên đã thông tuệ hơn người, nổi danh khắp Dương Châu! Là vị Cố gia tiểu thiếu gia năm xưa khiến người trong nghề cũng phải ngoái nhìn! Là người kinh thương bên ngoài tám năm, trở về đầy xe đầy thuyền, tài cán hiếm có! Bao sóng gió ngoài kia còn chẳng thể quật ngã chàng, nay bất quá chỉ là chân cẳng không tiện đôi chút, sao lại không dám đi xông pha thêm một lần nữa?”

Đồng tử Cố Tu Viễn đột nhiên co rụt lại, lồng ngực bắt đầu phập phồng kịch liệt.

Ta hơi nghiêng người về phía trước, dịu dàng nhìn vào mắt hắn.

“Thay vì ở lại Dương Châu, ngày ngày lo lắng kẻ khác chỉ chỉ trỏ trỏ sau lưng, chẳng bằng trở lại vùng trời ấy. Dùng gia nghiệp, dùng vàng bạc trắng, giẫm hết thảy những kẻ chê cười chàng dưới chân!”

“Đến lúc đó, ai còn dám cười chàng? Ai còn dám nhắc đến chân chàng nữa?”

Gió đêm cuốn qua sân viện, mang theo cái lạnh thấu xương.

Cố Tu Viễn chết lặng nhìn ta chằm chằm, nhịp thở càng lúc càng nặng nề, chút mờ mịt trong mắt dần bị ý chí hiếu thắng cùng lệ khí thay thế.

Dường như lại trở thành vị Cố gia thiếu gia đã lăn lộn chém giết mà bước ra từ sóng gió thương trường năm ấy.

Hắn im lặng rất lâu, lâu đến mức vầng trăng lưỡi liềm trên đầu khẽ khàng trôi qua hơn nửa bầu trời.

Cuối cùng, hắn nặng nề gật đầu một cái.

“Được!”

Cố Tu Viễn lại ra ngoài kinh thương.

Trước khi rời nhà, chàng gần như từng bước không rời mà ở bên ta.

Buổi sớm, chàng sẽ nhận lấy mày xoa từ tay nha hoàn, chuyên chú chấm lên mày ta.

Buổi chiều lại trải giấy tuyên trong thư phòng, nói muốn vẽ cho ta một bức tiểu tượng, để chàng mang theo bên người.

Ánh mặt trời xuyên qua song cửa, giữa mày chàng khẽ nhíu, mỗi một nét phác họa đều rơi xuống vô cùng cẩn trọng.

Ta cũng lấy oán trả ơn.

Thường ở trong phòng bếp, tự tay nấu nướng món ăn, điểm tâm cho chàng.

Đêm trước lúc chia tay, ta nắm lấy bàn tay mang theo lớp chai mỏng của chàng, khẽ giọng thủ thỉ:

“Phu quân cứ việc dấn thân bôn ba dựng nghiệp. Thiếp thân sẽ trông coi Cố phủ, trông coi song thân, yên tâm chờ chàng trở về.”

Lần này, trong mắt hắn chẳng còn vẻ lạnh nhạt xa cách thuở nào nữa.

Hắn nhìn ta thật sâu, rồi khẽ nhắm mắt, dịu dàng đặt lên giữa trán ta một nụ hôn.

Ngày hắn rời nhà, chàng ngồi cao trên lưng ngựa, thân khoác áo gấm, đứng ở đầu cả đoàn người.

Xung quanh xe ngựa ồn ào, cờ xí phần phật bay, chàng dẫn theo đoàn xe chầm chậm tiến lên.

Ra khỏi cửa thành rất xa, gần như sắp khuất bóng nơi cuối quan đạo, chàng bỗng ghì mạnh dây cương, đột ngột quay đầu lại.

Ánh mắt sắc như chim ưng, xuyên qua đám người tiễn đưa, dừng về phía vọng lâu nơi ta đứng.

Từ đó về sau, thư từ ngoài kia đều đặn gửi tới Cố phủ.

Trong thư, chàng kể tỉ mỉ mọi chuyện.

Cảnh sắc dọc đường, tình hình làm ăn, thậm chí cả một trò hề của tên tiểu nhị trẻ tuổi nào đó…

Giữa từng hàng chữ, quả thật đã có thêm mấy phần ấm áp của một người chồng cùng vợ chuyện trò chuyện nhà.

Kèm theo thư, lúc nào cũng có vài món đồ các nơi gửi tới, nhiều nhất vẫn là đủ loại đồ trang sức.

Trong thư luôn kèm một câu: “Vật này hợp với nàng.”

Hễ thư tới, ta đều cầm thư đi tới viện của bà mẫu, rồi cùng bà mở ra đọc.

Mắt bà mẫu lần nào cũng đỏ hoe, nắm lấy tay ta mà lẩm bẩm:

“Con ngoan, may mà có con, Tu Viễn nó mới gượng dậy được…”

“Thấy nó giờ đây nhớ thương con như vậy, lòng mẹ cũng xem như yên ổn hơn chút rồi. Phúc của con, còn ở phía sau kia.”

Có lẽ là vì được khen thưởng, chức vị của phụ thân ta ở phủ học lại được thăng thêm một bậc, làm lên chức giáo thụ.

Thư của Cố Tu Viễn tới ngày một dày đặc hơn.

Về sau, hầu như mỗi thư đều hỏi đến ăn uống rét ấm của ta, hỏi ta có ăn đồ ngoài phố chưa, có thích những món mới chàng gửi về hay không.