Trong đoạn tơ mờ ảo đó, Triệu Hổ vào đêm trước ngày thánh chỉ ban xuống, đã nhận được một bức mật báo. Bức mật báo ấy là một mảnh giấy nhỏ, mặt trên vỏn vẹn hai chữ: Mau trốn.
Hắn không đi.
Hắn không rõ kẻ nào gửi đến tờ giấy ấy.
Ta biết.
Là ta.
Sợi tơ ấy mỏng manh quá đỗi, mỏng manh đến mức ta gần như chẳng thể nhận ra phương hướng của nó. Nhưng chí ít, nó có tồn tại.
Triệu Hổ xoay mình lên ngựa, dong cỗ kiệu hoa rời đi. Thanh La ngồi trong kiệu, đầu đội khăn voan đỏ, ta không nhìn rõ gương mặt nàng.
Nhưng ta biết nàng đang cười.
Kiếp trước lúc xuất giá, nàng cũng từng cười như thế.
Đêm đó, một mình ta ngồi trong căn phòng vắng lặng như tờ, ngóng lên vầng trăng ngoài song cửa. Ánh trăng mùa thu vừa sáng trong lại lạnh buốt, rọi xuống gốc quế giữa sân, hoa quế trổ vàng rực cả một góc trời.
Ta nhìn thấy tương lai của cây quế: Ba ngày sau sẽ có một trận mưa rào, quét sạch đám hoa rơi. Cánh hoa tàn tạ rụng lả tả, bị hạ nhân quét dọn, trút vào đống rác sau nhà. Năm sau cây này vẫn sẽ đơm hoa, càng thêm phần rực rỡ.
Ta còn nhìn thấy, khi hoa quế năm sau nở rộ, ta đã không còn ở trong tiểu viện này nữa rồi.
10
Hoàng hậu hạ thủ rồi.
So với những gì ta nhìn thấy sớm hơn hai tháng.
Đêm đó, ta bị một tràng âm thanh huyên náo đánh thức. Đẩy cửa sổ nhìn ra, hướng hoàng thành lửa cháy ngập trời. Ngọn lửa đó chẳng mang sắc đỏ thường tình, mà toát ra một thứ sắc lam xanh ma quái, nhảy nhót lập lòe tựa như quỷ hỏa.
Ta thừa hiểu ngọn lửa ấy từ đâu ra.
Lò luyện đan ở Đan Hà quan, sụp rồi.
Cung biến kéo dài ròng rã suốt một đêm. Ta đứng lặng trong viện đến lúc trời tảng sáng, trân trân nhìn ánh lửa từ lục lam chuyển sang đỏ cam, rồi từ đỏ cam lụi tàn thành tro đen. Khi bình minh ló dạng, ngọn lửa đã tắt ngấm, thế chỗ là cột khói đen đặc, tựa như một con rồng đen cuộn mình trên không trung hoàng thành.
Tin tức là do Thôi Tĩnh Chi mang tới.
Quan phục trên người hắn nhăn nhúm nhàu nát, trong đôi mắt vằn vện tơ máu, tựa hồ từ hôm qua đến giờ chưa chợp mắt lấy một canh.
“Hoàng hậu nương nương… băng hà rồi.” Thanh âm hắn khàn đặc, “Thái tử bị phế thành thứ nhân, giam lỏng tại Nam Cung. Một trăm ba mươi bảy thuộc quan Đông cung, nhất luật hạ ngục.”
“Bệ hạ thì sao?”
“Bệ hạ long thể an khang.” Thôi Tĩnh Chi cười khổ, “Đêm qua Bệ hạ không ngự trong cung.”
“Ở đâu?”
“Đan Hà quan.”
Toàn thân ta lạnh buốt.
“Bệ hạ ở Đan Hà quan?” Thanh âm của ta bỗng chốc trở nên the thé, “Cớ sao ngài lại ở Đan Hà quan?”
“Quốc sư bẩm tấu, đêm qua là canh giờ Cửu Chuyển Trường Sinh Đan xuất lô, Bệ hạ bắt buộc phải đích thân túc trực để đón linh đan.” Thôi Tĩnh Chi nhìn ta, “Hoàng hậu lựa đúng đêm qua hành sự, chính là vì dò biết Bệ hạ không có trong cung. Nhưng bà ta không rõ, Đan Hà quan cách hoàng thành vỏn vẹn một nén nhang đi đường. Bà ta lại càng không hay, Quốc sư từ sớm đã bày sẵn thiên la địa võng.”
“Thiên la địa võng gì?”
Thôi Tĩnh Chi nín lặng rất lâu.
“Đêm qua, khoảnh khắc binh mã của Hoàng hậu đánh phá cung thành, vừa vặn là lúc lò luyện đan ở Đan Hà quan xuất lô. Bệ hạ đứng trước cửa lò, tận mắt chứng kiến cửa lò bật mở.” Hắn ngập ngừng, “Đúng lúc cửa lò mở ra, hướng hoàng thành vang lên tiếng hô hoán chém giết đầu tiên.”
“Quốc sư đã tâu với Bệ hạ một câu.”
“Câu gì?”
“Quốc sư tâu: Xin Bệ hạ xem kìa, linh đan đã thành, yêu khí ắt tự lộ diện. Đan này xưng tụng ‘Cửu Chuyển Trường Sinh’, vòng thứ nhất, chính là thay Bệ hạ dọn sạch gian nịnh kề bên.”
Hoa quế rụng rợp cả sân.
Ta đứng giữa đám hoa quế rơi lả tả, toàn thân lạnh ngắt.
Hoàng hậu.
Bà không bại trước Hoàng đế, không bại dưới tay Thẩm Tố, thậm chí chẳng phải bại vì sự nóng vội bộc phát của chính mình.
Bà bại vì một nhân quả đã được tính toán kỹ càng từ trước.