Năm đó tôi mười tám tuổi, lần đầu tiên mang tác phẩm đi tham dự triển lãm.
Hồi hộp đến mức lòng bàn tay túa đầy mồ hôi.
Bà ngoại nhét vào tay tôi một miếng bánh ngọt, dặn: “Đường Đường, đừng sợ. Đôi tay con có thể thêu ra hoa, thì cũng có thể tự mở đường cho chính mình.”
Khi đó Lục Thời Diễn đứng ở ngoài cửa, cười nói: “Cháu cũng muốn ăn.”
Bà ngoại đã cho anh hai miếng.
Bởi vì anh nói rằng: Tưởng Đường sau này nhất định sẽ cực kỳ xuất chúng, cháu phải lấy lòng em ấy từ bây giờ mới được.
Nghĩ đến đây, hốc mắt tôi chợt nóng lên.
Lục Thời Diễn nhìn thấy, nhưng không hề vạch trần.
Anh chỉ đưa cho tôi một tấm danh thiếp.
“Chuyện bức bình phong mừng thọ, ngày mai tôi sẽ bảo người gửi yêu cầu chi tiết cho em.”
Tôi nhận lấy.
“Được.”
Anh ngập ngừng một lát.
“Còn nữa, Tưởng Đường.”
“Dạ?”
“Đừng vì gặp nhầm người, mà hoài nghi bản thân không xứng đáng được đối xử tử tế.”
Bàn tay đang nắm tấm danh thiếp của tôi siết chặt lại.
Câu nói này nghe có vẻ thật nhẹ nhàng.
Nhưng lại nặng tựa ngàn cân, nặng hơn tất thảy những lời giải thích muộn màng trong suốt ba năm qua của Tống Dư An.
Tôi gật đầu.
“Tôi biết rồi.”
Nửa tháng tiếp theo, cuộc sống của tôi bỗng trở nên bận rộn.
Sau khi bức 《Hải Đường Dưới Trăng》 được trưng bày, Tiệm thêu Đường Ký nổi tiếng.
Ngày nào cũng có người ghé tiệm để chiêm ngưỡng tranh thêu.
Có những cô gái trẻ muốn học nghề thêu, có những vị khách quen mang áo cũ đến sửa, có người cất công lặn lội từ tỉnh xa đến, chỉ để nhìn ngắm ô cửa sổ trống vắng kia.
Họ hỏi tôi: “Tưởng lão sư, ô cửa sổ đó cuối cùng có mở ra không?”
Tôi đáp: “Có chứ.”
“Mở ra cho ai vậy cô?”
Tôi ngẫm nghĩ.
“Trước tiên là mở cho chính mình.”
Tin tức về nhà họ Tống cũng liên tục truyền đến tai tôi.
Mẹ Tống đã chuyển tám vạn sáu vào tài khoản của tôi.
Phần nội dung chuyển khoản viết những lời rất khó nghe.
Tôi không thèm để tâm.
Tiền vào tài khoản là được.
Nghe nói mẹ Tống đã mất hết thể diện trong giới phu nhân quyền quý.
Trước đây bà ta luôn chê bai tôi bất tài, chỉ biết ăn bám nhà họ Tống.
Bây giờ người ta nhắc đến tôi, đều một tiếng gọi Tưởng lão sư.
Có người cố tình trêu tức bà ta: “Con dâu cũ của bà tài giỏi vậy, sao trước giờ chưa từng nghe bà nhắc đến thế?”
Mẹ Tống chỉ biết cười gượng gạo.
Kịch tính nhất phải kể đến Thẩm Vãn Vãn.
Cô ta chuyển vào nhà họ Tống sống chưa được bao lâu, thì mọi chuyện bắt đầu không suôn sẻ.
Ban đầu mẹ Tống rất thích cô ta.
Cảm thấy cô ta biết ăn nói, biết chưng diện, trông rất sang trọng, thể diện.
Nhưng khi sống chung dưới một mái nhà, vấn đề mới bắt đầu nảy sinh.
Cô ta không biết nấu ăn, lười dọn dẹp, nửa đêm gọi đồ ăn ngoài, hộp carton vứt chất đống trước cửa phòng.
Mẹ Tống nói vài câu, cô ta liền đỏ hoe mắt tủi thân.
Tống Dư An bênh vực cô ta, mẹ Tống càng tức lộn ruột.
Trước đây, những việc vặt vãnh đó đều do tôi âm thầm xử lý.
Bóng đèn hỏng tôi thay.
Họ hàng đến tôi tiếp đãi.
Mẹ Tống nổi cáu tôi đứng ra dọn dẹp tàn cuộc.
Tống Dư An không về nhà tôi luôn để phần cơm nóng cho anh ta.
Sau khi tôi rời đi, họ mới phát hiện ra rằng, hóa ra một ngôi nhà có thể vận hành trơn tru bình thường, không phải dựa vào việc ai có khuôn mặt dịu dàng hơn ai.
Mà là vì luôn có một người sẵn sàng cúi đầu chịu đựng.
Nhưng những chuyện này chẳng còn liên quan gì đến tôi nữa.
Cho đến một đêm khuya nọ, Tống Dư An xuất hiện trước cửa Tiệm thêu Đường Ký.
Hôm đó tôi vừa vẽ xong bản phác thảo bình phong chúc thọ cho mẹ Lục Thời Diễn.
Lúc tắt đèn đi xuống lầu, tôi thấy anh ta đang đứng dưới ánh đèn đường.
Anh ta gầy đi một chút.
Tóc bị gió thổi rối bời, cúc áo khoác cũng chưa cài ngay ngắn.
Tôi nhíu mày.
“Anh đến đây làm gì?”
Anh ta nhìn tôi, quầng mắt hằn rõ sự mệt mỏi nặng trĩu.
“Tôi muốn gặp em.”
“Tôi không muốn gặp anh.”
Tôi cầm chìa khóa khóa cửa tiệm.
Anh ta tiến lên một bước.
“Tưởng Đường.”
Tôi dừng tay.
“Tống Dư An, đừng ép tôi phải báo cảnh sát.”
Anh ta khựng bước.
Dưới màn đêm, khuôn mặt anh ta trông có vẻ nhếch nhác, thảm hại.
“Tôi chỉ muốn hỏi em một câu thôi.”
“Hỏi đi.”
Anh ta nhìn chằm chằm tôi.
“Ba năm qua, em đã bao giờ yêu tôi chưa?”
Tôi cảm thấy thật nực cười.
“Bây giờ anh hỏi cái này để làm gì?”
“Tôi muốn biết.”
Tôi cất chìa khóa vào túi.
“Đã từng yêu.”
Mắt anh ta sáng lên trong chốc lát.
Tôi nói tiếp: “Nên mới ngu ngốc suốt ba năm.”
Tia sáng đó lập tức vụt tắt.
Yết hầu anh ta trượt lên xuống.
“Nếu tôi nói, tôi hối hận rồi thì sao?”
Gió trong ngõ thổi qua, cuốn tung những chiếc lá khô trên mặt đất.
Tôi nhìn anh ta.
Người đàn ông này, tôi đã từng rất yêu anh ta.
Yêu đến mức chỉ vì một câu nói của anh ta, tôi có thể vui vẻ suốt cả ngày.
Yêu đến mức anh ta chỉ hơi nhíu mày, tôi đã hoài nghi có phải mình làm sai điều gì không.
Yêu đến mức cuối cùng, tôi biến cuộc đời mình thành một bức tranh thêu không có tên tác giả.
Đường kim mũi chỉ có dày đặc, tỉ mỉ đến đâu, người ta cũng chỉ coi sự tồn tại của nó là lẽ đương nhiên.
Nhưng bây giờ nhìn lại anh ta, tôi chỉ cảm thấy xa lạ.
“Hối hận là chuyện của anh.”