“Sau khi biến loạn nổ ra, những người còn có thể điều động, sổ sách còn dùng được, kho lúa còn bảo vệ được trong ba thành, chúng thần đều đã ghi chép lại trước rồi.”
Nàng đặt một xấp sổ dày cộp vào tay ta.
Ta lật trang đầu tiên, lồng ngực bỗng buông lỏng.
Bên trong không chỉ có tên người.
Mà còn ghi rõ ai là người bị ép buộc, ai là kẻ nhân cơ hội làm loạn, kho lúa nào còn cứu được, nhà quân hộ nào vẫn còn người già trẻ nhỏ ốm yếu.
Ta nhìn những dòng chữ này, lần đầu tiên ý thức được một cách rõ ràng rằng, hóa ra những hạt giống ta gieo rắc những năm qua, thực sự đã có thể thay ta nâng đỡ cục diện trong giông bão rồi.
Ta ngẩng đầu nhìn họ.
“Có sợ không?”
Trịnh A Cửu đưa tay quệt vệt cát trên mặt.
“Sợ.”
“Nhưng chúng thần càng sợ hơn, nếu không ghi chép lại những thứ này trước, đao kiếm của những kẻ đến sau sẽ không phân biệt trắng đen mà chém ráo hết.”
Ta mỉm cười.
“Rất tốt.”
“Đây mới là người do ta dạy dỗ.”
Hai mươi ngày tiếp theo, ta không vội vàng công thành.
Ta trước hết cắt đứt đường muối và lương thực lậu sau lưng hai viên lão tướng đó, rồi sai người đem danh sách gia quyến quân nhân bị chúng bắt ép trong thành tung ra ngoài từng đợt.
Ban ngày, ta sai người dựng lán phát cháo và lán thuốc ngoài thành.
Ban đêm, ta cho người đưa cáo thị vào trong thành.
Trên đó chỉ viết một câu:
“Trong ba ngày, buông vũ khí không giết, bảo vệ bách tính không có tội, bắt ép trẻ nhỏ chém đầu.”
Cách này trông thì mềm mỏng.
Nhưng lại đả thương người sâu nhất.
Bởi kẻ thực sự muốn tạo phản, thứ sợ nhất không phải là đao kiếm.
Mà là lòng người mình vất vả thu phục lại từng chút một tan tác đi mất.
31
Đêm ngày thứ ba, lứa lính canh đầu tiên trèo tường thoát ra.
Ngày thứ sáu, gia quyến quân nhân trong thành bắt đầu lợi dụng hỗn loạn để phóng hỏa đốt xe lương.
Ngày thứ tám, hai viên lão tướng kia không ngồi yên được nữa, ngay trong đêm phái người đến đàm phán với ta.
Người vừa đến vừa mở miệng đã nói: “Trưởng Công chúa cớ sao phải làm đến mức tuyệt tình, dẫu sao mọi người cũng đều là thần tử của Đại Ung.”
Ta ngồi trong trướng quân, ngay cả trà cũng không thèm mời hắn.
“Lúc các người khởi binh, sao không nhớ ra mình cũng là thần tử của Đại Ung?”
“Bây giờ lương thực trong thành sắp cạn, mới biết đến đây nói chuyện tình nghĩa.”
Người nọ sắc mặt khó coi.
“Điện hạ thực sự muốn dồn ép đến mức lưỡng bại câu thương sao?”
Ta bật cười.
“Ngươi lại nói sai rồi.”
“Ván cờ này từ đầu đến cuối, người bị thương sẽ không phải là ta.”
“Vì ta có kiên nhẫn.”
“Còn các ngươi thì không.”
Ngày thứ hai sau khi đàm phán sụp đổ, ta sai người chở tất cả danh sách sắp xếp chỗ ở cho các gia quyến quân nhân bị bắt ép đến trước trận, ngay trước mặt hai quân bắt đầu gọi tên nhận mặt.
Mẹ nhà ai bệnh nặng, con cái nhà ai vẫn còn kẹt trong thành, phu quân nhà ai vốn dĩ bị cấp trên ép lên tường thành, trên danh sách ghi rõ ràng rành mạch.
Khoảnh khắc đó, lòng quân trên tường thành liền tan rã.
Khẩu hiệu có hung hăng đến đâu, cũng không đè bẹp được cái tên của già trẻ lớn bé trong nhà mình bị người ta đọc lên rành rọt từng nét.
Đêm ngày thứ mười hai, một trong ba thành chủ động mở cửa.
Ngày thứ mười lăm, viên tướng giữ thành thứ hai trói luôn chủ tướng ra đầu hàng.
Viên lão tướng cuối cùng thấy đại thế đã mất, lại muốn phóng hỏa đốt thành, vùi lấp tất cả dấu vết.
Ta xông vào thành lúc cửa thành mới mở một nửa.
Lửa cuốn theo cát vàng, cháy rực một đường đến kho quân giới phía đông thành.
Rất nhiều người gào lên bảo ta đừng vào.
Nhưng ta biết, trong kho đó không chỉ có vũ khí, mà còn có cả văn thư và sổ hộ tịch của cả một thành chưa kịp sơ tán ra ngoài.
Thứ đó mà bị thiêu rụi, sau này không biết bao nhiêu người sẽ bị quy chung thành phản đảng.