Ta quỳ trên bồ đoàn, chợt nhớ lại nhiều năm về trước, những lời người đã nói khi đẩy con dấu sổ sách Hầu phủ đến trước mặt ta.
Người nói, tranh giành thiên hạ đến cuối cùng, thứ tranh giành chưa bao giờ là xem ai nói to hơn.
Mà là ai mới có thể thực sự giữ lấy lòng người.
Lúc đó ta chỉ nghĩ người đang dạy ta cách làm việc.
Đi đến ngày hôm nay mới hiểu, đó cũng là người đang dạy ta cách làm người.
Khi tàn hương từ từ rơi xuống, ta hướng về chiếc lư hương nhỏ khẽ mỉm cười.
Tổ mẫu, con bây giờ rốt cuộc cũng không học phí công.
Giang sơn này, con nâng được rồi.
Sau này, trong lứa học sinh mới nhập học, có một cô bé nhỏ nhất mới mười bốn tuổi.
Lần đầu tiên gặp ta, con bé căng thẳng đến mức hành lễ cũng không vững, nhưng vẫn ngước mắt lên hỏi ta: “Điện hạ, nữ tử thực sự có thể làm được rất nhiều việc sao ạ?”
Ta nhìn con bé, bỗng nhớ lại hình ảnh mình đứng trong tuyết sau khi bị phế hôn ước năm xưa.
Khi đó, chưa chắc ta đã biết sau này mình sẽ đi được xa đến vậy.
Nhưng ta vẫn gật đầu.
“Có thể.”
“Những việc bây giờ con có thể nghĩ đến, hay không thể nghĩ đến, chỉ cần con chịu học, chịu đứng lên, chịu cất bước, sớm muộn gì cũng sẽ làm được.”
Đôi mắt con bé sáng rực lên trong chốc lát.
Ta nhìn đôi mắt rực sáng nóng hổi ấy của con bé, trong lòng cũng bừng lên một tia sáng.
Hóa ra đôi khi, một người phụ nữ chiến thắng đủ vững chãi, thực sự có thể thay những người đi sau, chống đỡ cho khoảng trời này rộng mở hơn một chút.
27
Nhiều năm về sau, khi dân gian nhắc đến ta, có người gọi ta là Trưởng Công chúa, có người gọi ta là Thẩm đại nhân quản lý muối, cũng có người gọi ta là sư tổ của Nữ Học.
Nhưng những danh xưng này, ta đều không mấy để tâm.
Ta thích câu mà các cô nương Bắc Địa lén gọi ta hơn.
Họ gọi ta là Người Xách Đèn.
Bởi vì là ta xách đèn bước vào trong gió bão trước, họ mới biết, hóa ra trời dù có tối, đường đi cũng không phải là không có.
Và đây, có lẽ chính là cái tên ta muốn lưu lại nhất trong đời này.
So với mệnh phượng hoàng, ngôi vị Hoàng hậu hay mấy hư danh khác, thứ này càng giống ta hơn.
Nếu sau này có ai lật lại sử cũ, hỏi xem mấy năm đó ở Đại Ung rốt cuộc là ai đã ngăn chặn được giông bão, ta nghĩ đáp án thực ra cũng không cần phải viết quá khoa trương.
Chỉ cần họ nhớ rằng, từng có một người xách đèn đi phía trước, vậy là đã đủ rồi.
Huống hồ, đèn cái thứ này, vốn dĩ cũng không phải thắp lên chỉ để soi sáng cho người xách đèn.
Đèn rọi ra, đường sẽ hiện.
Còn ta đời này, có thể thay họ soi đường đến đây, đã là vô cùng thỏa mãn.
Phần gió tuyết về sau, nên để tự họ đi giẫm lên mà đi rồi.
Ta chỉ phụ trách thắp sáng ngọn đèn đầu tiên.
Còn vạn gia đèn lửa về sau, tự khắc sẽ có người lần lượt tiếp nhận.
Nhưng việc xách đèn này, chưa bao giờ là chuyện thắp sáng xong rồi thôi.
Năm thứ sáu sau khi Tân đế đăng cơ, Tây Bắc bỗng xảy ra binh đao.
Không phải giặc ngoại bang ồ ạt kéo đến.
Mà là hai viên lão tướng vùng biên ải mượn cớ thuế xuân không ổn định, quân lương chậm chạp không đến, đã lôi kéo biên quân và lưu dân, chiếm giữ ba tòa thành nhỏ, dựng cờ “Thanh quân trắc” ().
Ngày tin tức truyền về kinh thành, cả triều đều tĩnh lặng.
Ai cũng biết, loại bạo loạn này khó thu dọn nhất.
Nếu là giặc ngoại bang, còn có thể cùng chung kẻ thù.
Nhưng lần này là người nhà động thủ, lại còn lấy danh nghĩa “Thanh quân trắc”.
Đánh mạnh quá, thì làm lạnh lòng biên quân.
Đánh nhẹ quá, kẻ sau thấy vậy sẽ bắt chước làm theo.
28
Quân Cơ Xứ cãi nhau cả ngày trời, chẳng ai đưa ra được một cách giải quyết vẹn toàn.
Cho đến đêm, Tạ Vãn Hòa đến tìm ta.
Nàng đặt một xấp mật báo mới đến lên án thư, giọng rất nhỏ.
“Cô đoán không sai.”
“Quân lương chỉ là cái cớ.”
“Đứng sau hai kẻ này, còn có cựu đảng Tông thất.”