Trong trang tử quế hoa thơm ngát, mặt trăng vừa lớn vừa tròn. Thẩm Sách bày hai chén, một bình quế hoa nhưỡng trên bàn đá.
“Ngồi.”
Ta ngồi xuống đối diện hắn, nhận chén rượu hắn đưa.
Quế hoa nhưỡng vào miệng ngọt dịu, hậu vị hơi đắng.
“Rượu năm nay ngon hơn năm ngoái.”
“Ta tự ủ.” Hắn nói, “Phía sau trang tử trồng ba cây quế, năm nay hoa nở đẹp.”
Ánh trăng rơi trên vai hắn, nhuộm chiếc trường sam màu nhạt thành xám bạc.
Chúng ta uống mấy chén, không ai nói gì.
Cho tới khi trăng lên cao nhất, hắn bỗng lên tiếng.
“Tự Dư, ta có một chuyện muốn hỏi nàng.”
“Hỏi đi.”
“Bây giờ—nàng còn nghĩ tới hắn không?”
Ta cầm chén rượu, nhìn bóng trăng phản chiếu trong chén.
Nghĩ rất lâu.
“Không nghĩ nữa.”
“Thật sao?”
“Thật. Không phải giận dỗi nên nói không nghĩ, mà là thật sự không nhớ nổi nữa. Gương mặt hắn, giọng hắn—đều mơ hồ rồi.”
Thẩm Sách không nói.
Lại qua một lúc.
“Vậy—” giọng hắn nhẹ hơn bình thường rất nhiều, “còn ta?”
Ta ngẩng đầu nhìn hắn.
Dưới ánh trăng, mày mắt hắn ôn hòa, ánh nhìn trầm tĩnh, không ép buộc.
Mười lăm năm rồi.
Từ đồng học năm chín tuổi đến hai mươi lăm tuổi. Hắn chưa từng thúc ta một chữ, chưa từng vượt quá một bước giới hạn.
Chỉ là—vẫn luôn ở đó.
“Thẩm Sách.”
“Ừ.”
“Bây giờ ta vẫn chưa chuẩn bị xong.”
Hắn cười.
“Ta biết.”
“Nhưng—” ta uống cạn chút rượu còn lại trong chén, “ngươi đừng đợi quá lâu.”
Ý cười trong mắt hắn sâu hơn một chút.
“Được. Không đợi quá lâu.”
——
Tháng chín.
Vào tiết trời thu cao khí sảng, lô hàng thứ năm của thương đội Trưởng công chúa từ Tây Vực trở về.
Lần này mang về những thứ đáng giá hơn bốn lần trước—một trăm viên bảo thạch Ba Tư, ba nghìn cân hương liệu Thiên Trúc, năm trăm khối bạch ngọc Vu Điền.
Quy ra bạc hai mươi vạn lượng.
Phần chia lợi nhuận của Trưởng công chúa tới tay ta—bốn vạn lượng.
Cộng với thu nhập các sản nghiệp khác, tổng thu nhập năm Kiến An thứ năm của ta đã vượt hai mươi vạn lượng.
Con số này—vượt thu nhập một năm của hơn nửa số thế gia trong thành Thịnh Kinh.
Ta ngồi ở hậu viện Sách Minh phường tính xong khoản này, khép sổ lại.
Chuyện tiếp theo nên làm—mua nhà.
Biệt viện phía nam thành quá nhỏ.
Ta nhìn trúng một đại trạch ba tiến ở phía đông thành, gần hoàng thành. Vốn là phủ đệ của một vị quan phạm tội, bị triều đình tịch thu rồi treo bán.
Chiếm ba mẫu đất, hoa viên giả sơn đủ cả, trước sau ba tiến viện, hơn ba mươi gian phòng.
Giá một vạn tám nghìn lượng.
Ta trả đủ một lần.
Ngày chuyển nhà, Thu Quỳ chạy tới chạy lui trong nhà mới, phấn khích như trẻ con.
“Tiểu thư! Phía sau có một hồ nhỏ! Trong hồ còn có cá chép gấm!”
“Ừ.”
“Đông sương phòng có thể làm thư phòng, Tây sương phòng làm kho—ôi chao, viện này còn lớn hơn Phù Dung uyển ở Vương phủ!”
Ta đứng trong chính sảnh nhìn quanh.
Xà chạm cột vẽ, bài trí tinh xảo.
Kém Vương phủ sao?
Không kém Vương phủ.
“Sau này nơi này gọi là—” ta nghĩ một lát, “Thanh Cừ cư.”
“Vì sao gọi Thanh Cừ?”
“Hỏi dòng nước sao trong như thế.”
Bởi có nguồn nước sống chảy về.
——
Tháng mười.
Ngày thứ ba sau khi chuyển vào Thanh Cừ cư, một tấm bái thiếp được đưa tới cửa.
Người tới là—Thái tử Thái phó, đệ nhất văn thần đương triều, Bùi Huyền Chi.
Bùi Huyền Chi là người thế nào? Nguyên lão ba triều, môn sinh khắp thiên hạ, đến Thái hậu cũng phải nể ông ba phần.
Ông tới tìm ta làm gì?
Ta gặp ông ở chính sảnh.
Một lão nhân râu tóc bạc trắng, tinh thần quắc thước, ánh mắt như đuốc.
“Tuân cô nương, ngưỡng mộ đã lâu.”
“Bùi đại nhân nói vậy khiến Tự Dư hổ thẹn. Không biết đại nhân tới đây có gì chỉ giáo?”
Bùi Huyền Chi nâng chén trà uống một ngụm, cũng không vòng vo.
“Lão phu nghe nói cô nương mở một nữ tử thư thục.”
“Phải.”
“Lão phu muốn thêm một môn học trong thư thục của cô nương.”
Ta hơi bất ngờ.
“Môn gì?”
“Học vấn kinh thế trí dụng.”
Ta nhướng mày.
“Bùi đại nhân—Thái tử Thái phó—muốn tới một nữ tử thư thục nhỏ bé của ta dạy học?”
“Không phải lão phu tự dạy.” Ông cười, “Là quan môn đệ tử của lão phu. Hắn còn trẻ, có tài học, dạy ở Quốc Tử Giám hai năm thấy chẳng thú vị. Muốn đổi nơi thử sức.”
“Đại nhân không ngại—dạy nữ học sinh sao?”
“Đệ tử của lão phu nếu ngay cả dạy nữ học sinh cũng không dám thì không xứng làm đệ tử của lão phu.”
Ta nhìn ông.
Vị nguyên lão ba triều này chạy tới chỗ ta, rõ ràng không chỉ để tìm một chức sự cho đệ tử.
“Bùi đại nhân thật sự muốn nói gì?”
Ông đặt chén trà xuống, nhìn ta.
“Những việc cô nương làm trong một năm qua, lão phu đều nhìn thấy. Có quyết đoán, có thủ đoạn, có tầm nhìn. Nhưng—vẫn thiếu một thứ.”
“Thứ gì?”
“Danh vọng.”
Ta im lặng.
Ông nói đúng.
Bạc ta có rồi. Nhân mạch ta có rồi. Sản nghiệp ta có rồi. Nhưng trong thế đạo trọng nam khinh nữ này, một nữ nhân hòa ly dù có tiền, có bản lĩnh đến đâu, trong mắt sĩ đại phu chính thống—vẫn luôn không nhập lưu.
“Nếu thư thục của cô nương có thể được lão phu đứng ra bảo chứng—sau này ở thành Thịnh Kinh, sẽ không ai dám nói thư thục của cô nương là tà môn ngoại đạo.”
“Đại nhân muốn hồi báo gì?”